1. Di sản thừa kế là gì?
Pháp luật dân sự từ trước đến nay chưa có văn bản nào đưa ra khái niệm về di sản thừa kế mà chỉ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp quy định về thành phần của di sản thừa kế. Tuy nhiên, nhìn nhận di sản thừa kế dưới góc độ của khoa học Luật Dân sự có thể hiểu: Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người chết để lại, là đối tượng của quan hệ pháp luật liên quan đến việc dịch chuyển tài sản của người đó sang cho những người hưởng thừa kế được nhà nước thừa nhận và bảo đảm thực hiện.
Di sản thừa kế là các loại tài sản được quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 không bị hạn chế về số lượng, giá trị miễn là thuộc quyền sở hữu của cá nhân, bao gồm: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản".
2. Di sản thừa kế bao gồm những gì?
Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự 2015:
Điều 612. Di sản
Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Như vậy, di sản thừa kế bào gồm tài sản riêng của người chết và cả tài sản chung với người khác của người chết.
Tài sản riêng tức là thuộc sở hữu riêng của một người nhất định. Điều 205 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về sở hữu riêng như sau:
Điều 205. Sở hữu riêng và tài sản thuộc sở hữu riêng
1. Sở hữu riêng là sở hữu của một cá nhân hoặc một pháp nhân.
2. Tài sản hợp pháp thuộc sở hữu riêng không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Tài sản chung là tài sản thuộc sở hữu chung, Điều 207 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về sở hữu chung như sau:
Điều 207. Sở hữu chung và các loại sở hữu chung
1. Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể đối với tài sản.
2. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất.
3. Tài sản riêng của người chết
Tài sản riêng của người chết là phần tài sản mà thông thường cá nhân nào cũng có, bởi nó gắn liền với các quyền và nghĩa vụ lao động của mỗi cá nhân trong xã hội gắn liền với nhu cầu tất yếu về vật chất cho cuộc sống của con người. Tuy nhiên, tài sản của cá nhân công dân Việt Nam về phạm vi và thành phần của nó qua mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội khác nhau thì có sự thay đổi, vì thế có sự khác nhau trong quy định của pháp luật.
Tài sản riêng của người chết được xác định là phần tài sản mà về phương diện pháp lý không bị chi phối hoặc phải chịu một sự ràng buộc nào với các chủ thể khác trong việc chiếm hữu, sử dụng và thực hiện quyền định đoạt. Tài sản riêng được sử dụng trong Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 để xác định tài sản của một cá nhân không nằm trong khối tài sản chung với người khác; không nằm trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ, chồng. Theo đó, phần tài sản này được xác định:
- Độc lập trong sở hữu chung theo phần.
- Độc lập trong sở hữu chung hợp nhất. Sự độc lập này được xác định căn cứ vào khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong đó: Tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản, mà vợ chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; Tài sản riêng của vợ, chồng có được khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.
4. Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với khác
- Tài sản chung trong khối tài sản chung của vợ chồng:
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác nhau của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Tất cả các tài sản này là tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Khi một bên chết trước và có yêu cầu chia di sản thừa kế, khối tài sản chung này được chia đôi một nửa thuộc sở hữu của người đang sống, người còn lại được xác định là di sản của người đã chết.
- Tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác
Sở hữu chung theo phần cho phép xác định phần quyền của mỗi chủ sở hữu. Phần tài sản này có thể do họ góp vốn, góp công sức để cùng kinh doanh; phần vốn góp trong công ty; phần tài sản được cho chung, được thừa kế chung của họ trong khối tài sản chung của nhiều người. Vì vậy, khi người này chết phần tài sản của họ trong khối tài sản chung theo phần là di sản thừa kế mà họ để lại.
Ví dụ: A góp vốn với B mở một công ty. Sau đó, A chết. Phần vốn góp của A trong công ty sẽ được để lại thừa kế.
5. Các quyền về tài sản mà người chết để lại
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền. Các quyền này thường phát sinh từ các giao dịch dân sự mà khi còn sống người để lại di sản tham gia. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm hợp đồng, quyền đòi bồi thường thiệt hại do gây thiệt hại, quyền được hưởng các lợi ích phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng đất cũng được xác định là di sản thừa kế.
Tuy nhiên, những quyền tài sản trong tương lai nhưng lại gắn liền với nhân thân người chết không phải là di sản. Chẳng hạn: Tiền lương hưu, tiền trợ cấp thương tật, tiền tuất, tiền cấp dưỡng. Tiền lương hưu là tiền bảo hiểm xã hội mà nhà nước trả cho những người lao động có đóng bảo hiểm xã hội. Khi người lao động không làm việc nữa, hết tuổi lao động được nhà nước trả tiền bảo hiểm bằng lương hưu của chính họ. Khi người này chết thì nhà nước chấm dứt nhiệm vụ đối với người đó, vì thế lương hưu không phải là di sản thừa kế... Trong bối cảnh hội nhập, với thực trạng của nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay thì vấn đề tài sản thuộc quyền sở hữu của cá nhân ngày càng trở nên phức tạp và đa dạng. Vì thế, di sản thừa kế và việc xác định di sản thừa kệ cũng đặt ra nhiều hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn cần giải quyết. Như vậy: Di sản thừa kế là phần còn lại trong khối di sản của người chết sau khi đã thanh toán toàn bộ nghĩa vụ và các chi phí khác liên quan.
6. Cách xác định di sản thừa kế
Để dễ nhận biết di sản thừa kế trong trường hợp người quá cố có để lại di chúc và người quá cố không để lại di chúc, có thể xem xét các công thức sau:
- Di sản thừa kế = di sản - nghĩa vụ tài sản và các chi phí (1)
- Di sản thừa kế - di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc + di sản thờ cúng + di tặng + di sản chia thừa kế (2)
- Di sản chia thừa kế = Di sản thừa kế - Di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc - di sản thờ cúng - di tặng (3)
Lưu ý: Công thức (1) áp dụng trong trường hợp không có di chúc; Công thức (2) và (3) chỉ được áp dụng đối với trường hợp người để lại di sản có lập di chúc và tất cả các thành phần của di sản thừa kế được người lập di chúc định rõ trong di chúc. Đồng thời có sự xuất hiện của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Có nghĩa là người lập di chúc đã truất quyền hưởng di sản của những đối tượng được hưởng 2/3 một suất thừa kế theo luật. Trường hợp không có các thành phần kể trên thì giá trị trong công thức được xác định là: Di sản thừa kế chính là di sản để chia thừa kế.
Về thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản của người hưởng di sản: Đây là một trong những nội dung có ý nghĩa về cả lí luận và thực tiễn. Điều 614 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại".
Quy định này cho thấy, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người hưởng thừa kế có quyền hưởng di sản của người chết để lại, thời điểm này những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế dù về nguyên tắc họ có quyền yêu cầu chia di sản bất cứ lúc nào kể từ thời điểm mở thừa kế. Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản được diễn ra ở hai thời điểm khác nhau trong quá trình thực hiện các bước của quan hệ pháp luật thừa kế. Quyền hưởng di sản là căn cứ, tiền đề cho việc thực hiện quyền hưởng di sản.
Việc xác định thời điểm xác lập quyền sở hữu của người hưởng thừa kế đối với phần di sản thừa kế mà họ được hưởng ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định tổng khối di sản mà người chết để lại. Khi người hưởng thừa kế chưa xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế trong khối di sản thì mọi giá trị vật chất phát sinh từ di sản thuộc về “khối di sản” hoặc giá trị vật chất của khối di sản bị tiêu huỷ, bị giảm giá trị hay gây thiệt hại cho người khác thuộc quyền và nghĩa vụ của,người chết để lại, vì thế được xác định là quyền và nghĩa vụ chung của tất cả những người hưởng di sản thừa kế. Các hệ quả này được xác định là hệ quả của quyền thừa kế chứ không phải hệ quả của quyền sở hữu. Ngược lại, khi người hưởng thừa kế đã nhận và được xác lập quyền sở hữu thì mọi giá trị vật chất phát sinh từ phần di sản đó cũng như mọi rủi ro hay bất lợi cho di sản từ phần di sản đó thuộc về người hưởng di sản. Lúc này, hệ quả trên là của quyền sở hữu chứ không còn là hệ quả của quyền thừa kế.
Có người cho rằng “quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản” được diễn ra ở hai thời điểm khác nhau. "Quyền hưởng di sản và thực hiện quyền hưởng di sản” diễn ra cùng thời điểm (thời điểm mở thừa kế) chỉ đúng trong phạm vi rất hẹp, đó là di sản đang nằm trong tay, đang nằm trong sự chiếm hữu một cách hợp pháp của người hưởng di sản (người có quyền hưởng thừa kế) và loại tài sản này không bị phân chia, không phải đăng ký quyền sở hữu. Chẳng hạn, người hưởng thừa kế đang giữ khoản tiền, một số đồ trang sức hoặc một số đồ dùng khác... mà các tài sản này là “phần” mà chính họ được hưởng thừa kế.
Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người hưởng thừa kế có quyền hưởng di sản (quyền thừa kể), thời điểm này những người thừa kế chưa có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế. Mặc dù về nguyên tắc, người có quyền hưởng di sản có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế bất cứ lúc nào kể từ thời điểm mở thừa kế nhưng việc chia thừa kế không thể diễn ra ngay sau khi người có tài sản chết.
Từ những lí do trên có thể kết luận không thể xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế của người hưởng di sản từ thời điểm mở thừa kế (trừ một số trường hợp đã nêu). Tại thời điểm mở thừa kế, người thừa kế cũng như người được di tặng (nếu có) có quyền thừa kế (có quyền nhận tài sản). Từ thời điểm mở thừa kế, những người này chưa có quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế, tài sản thừa kế chưa thuộc về họ. Tài sản thừa kế sẽ thuộc quyền sở hữu của họ kể từ khi nhận được hoặc từ khi hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế (nếu pháp luật có quy định).
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Trân trọng./.