1. Địa chỉ là gì ?

Địa chỉ là kí hiệu chữ viết trên giấy hay trên các vật liệu khác dùng để chỉ nơi cư trú, nơi làm việc của một cá nhân; nơi đóng trụ sở của một cơ quan hay một tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội. Tùy khu vực thành thị hay nông thôn mà địa chỉ được ghi bằng số nhà, ngõ, ngách, tên phố của thị xã, thành phố; hoặc tên xóm, thôn, huyện, tỉnh để các cá nhân, tổ chức khác tiện giao dịch bằng các hình thức khác nhau với cá nhân, tổ chức có địa chỉ. Trong điều kiện thông tin hiện đại, mỗi địa chỉ thường đi kèm với một số điện thoại, số fax, email.

2. Cách đọc địa chỉ nhà

Theo quy định tại Quyết định 05/2006/QĐ-BXD ban hành về việc quy chế đánh số và gắn biển số nhà do Bộ trưởng Bộ Xây Dựng ban hành. Địa chỉ là tổng hợp các thông tin, nhằm mục đích xác định vị trí của một căn nhà, một căn hộ, một thửa đất nào đó. Địa chỉ thường sử dụng đơn vị hành chính và tên phố để miêu tả, cùng với các thông tin đi kèm khác như số nhà, số căn hộ, biệt thự.

Đọc địa chỉ ở nước ta thường gắn liền với địa giới hành chính. Địa chỉ gồm có 2 phần cơ bản phần số nhà, tên đường hoặc thôn, ấp và phần còn lại theo địa giới hành chính. Phần đầu tiên chỉ gồm số nhà và tên đường hoặc phố, ví dụ: số 529 phố Bạch Mai.

Đây là cách gọi cơ bản và phổ biến nhất hiện nay. Trường hợp không có số nhà và đường phố, thì kèm theo đội hoặc xóm, thôn, ví dụ: Đội 1 thôn Đông hoặc ấp 1. Điều đó sẽ dẫn đến hiện tượng có nhiều hộ gia đình, cá nhân có cùng 1 địa chỉ, đặc biệt là khu vực nông thôn, tưởng chừng như đây là điều khó khăn, vướng mắc khi đi tìm nhà nhưng tính cộng đồng và tính tự trị của văn hóa làng xã Việt Nam thì đa phần người dân đều biết nhau nên chỉ cần biết tên chủ hộ là sẽ có người xác định được địa chỉ nhà.

Phần còn lại sẽ theo địa giới hành chính tương ứng với 3 cấp quản lý hành chính là tên cấp xã: xã, phường, thị trấn; cấp huyện: huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; cấp tỉnh: tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Khi đọc địa chỉ trong nước thì thường không kèm theo tên nước, trừ trường hợp có yếu tố nước ngoài. Theo nguyên tắc chung khi đọc địa chỉ nhà, giới thiệu địa chỉ nhà ở, địa chỉ các cơ quan tổ chức chúng ta đọc hoặc viết lần lượt từ chi tiết đến tổng thể.

Đối với khu vực đô thị đọc theo thứ tự số nhà, số hẻm, số ngách, số ngõ, tên đường, tên phố, tên phường xã thị trấn, tên quận huyện thị xã thành phố trực thuộc tỉnh, tỉnh thành phố trực thuộc trung ương. Đối với khu nhà ở chung cư thì đọc theo thứ tự số phòng, số tầng, tên tòa nhà, tên khu chung cư hoặc khu đô thị hoặc khu nhà ở, số ngõ, tên đường, tên phố, tên phường xã thị trấn, tên quận huyện thị xã thành phố trực thuộc tỉnh. Đối với khu vực nông thôn sẽ là thôn, xóm, ấp, xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Người đọc địa chỉ nhà ví dụ: số xx, ngách abc/xyz, đường a, phố b…vv.. hoặc số xx/abc/xyz đường a…vv.. hoặc số xx, ngõ abc, ngách xyz/zyx. Nhữnng cá nhân để tìm một địa chỉ thì phải tìm ngược lại cách đọc tức là phải tìm đường sau đó tìm đến ngõ hay ngách, nếu ngách có hẻm thì tìm đến số hẻm rồi mới tìm số nhà. Thông thường, sổ hộ khẩu sẽ là giấy tờ pháp lý chính xác khi tìm địa chỉ nhà làm căn cứ.

Ví dụ về một số cách đọc địa chỉ như sau:

– Số nhà 119, đường Trần Duy Hưng, Quận Cầu Giấy , TP Hà Nội.

– Phòng 2004, tòa A, số 275, đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

2. Nguyên tắc đánh số nhà, số căn hộ

Có 3 loại nhà: 1 – nhà mặt đường, nhà trong ngõ, trong ngách, 2 – nhà chung cư, 3 – nhà trong nhóm nhà.

2.1. Nguyên tắc đánh số nhà mặt đường và nhà trong ngõ, trong ngách

Quyết định 05/2006/QĐ-BXD về việc ban hành quy chế đánh só và gắn biển số nhà quy định

"Điều 4. Nguyên tắc đánh số nhà mặt đường và nhà trong ngõ, trong ngách

1. Đánh số nhà mặt đường và nhà trong ngõ, trong ngách được sử dụng dãy số tự nhiên (1, 2, 3..., n) với thứ tự từ số nhỏ đến số lớn theo chiều quy định tại khoản 2 Điều này. Nhà bên trái lấy số lẻ (1, 3, 5, 7...), nhà bên phải lấy số chẵn (2, 4, 6, 8...).

2. Chiều đánh số nhà

a) Chiều đánh số nhà được thực hiện theo hướng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, từ Đông Bắc sang Tây Nam, từ Đông Nam sang Tây Bắc;

b) Trường hợp ngõ chỉ có một đầu thông ra đường, phố thì lấy chiều đánh số được thực hiện từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố đến nhà cuối ngõ. Trường hợp ngõ đặt tên theo đường, phố và ngõ thông ra đường, phố cả hai phía, thì lấy chiều từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố mà ngõ mang tên đến cuối ngõ bên kia.

Trường hợp ngách chỉ có một đầu thông ra ngõ thì chiều đánh số được thực hiện từ nhà đầu ngách sát với ngõ đến nhà cuối ngách;

c) Đối với ngõ hoặc ngách chưa có tên thì chiều đánh số được áp dụng theo nguyên tắc quy định tại điểm b khoản này và tên ngõ hoặc ngách được lấy theo số nhà mặt đường nằm kề ngay trước đầu ngõ hoặc ngách đó."

Như vậy, theo quy định tại Chương 2 quy định nguyên tắc đánh số nhà, tại mục I nguyên tắc đánh số nhà, số căn hộ, Điều 4 quy định nguyên tắc đánh số nhà mặt đường và nhà trong ngõ, trong ngách. Việc đánh số nhà mặt đường hoặc nhà trong ngõ sử dụng các số 1, 2, 3, 4… n theo lần lượt từ nhỏ đến vô tận. Dãy nhà bên trái sẽ gắn số lẻ tức là số nhà có số tự nhiên cuối cùng mang các số 1, 3, 5, 7, 9, còn bên phải số chẵn sẽ là các số tự nhiên có tận cùng là các số 2, 4, 6, 8, 0.

Về hướng, chiều đánh số nhà từ số nhỏ đến số lớn cho đến hết phố, đường hoặc theo địa giới quản lý hành chính sẽ thực hiện từ hướng Bắc xuống hướng Nam tức là theo chiều dọc của bản đồ, từ Đông sang Tây theo chiều ngang của bản đồ. Trường hợp còn lại sẽ từ Đông Bắc sang Tây Nam, từ Đông Nam sang Tây Bắc. Trong trường hợp ngõ chỉ có một đầu thông ra đường hoặc ngõ cụt thì số nhà sẽ đánh từ đầu nhà tiếp giáp với đường cái đường chính cho đến sâu vào trong.

Chiều từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố mà ngõ mang tên đến cuối ngõ bên kia. Trường hợp ngách cụt hoặc hẻm cụt cũng tương tự gắn biển số nhà lấy theo số nhà mặt đường nằm kề ngay trước đầu ngõ hoặc ngách đó.

2.2. Nguyên tắc đánh số căn hộ của nhà chung cư

- Đánh số căn hộ được sử dụng dãy số tự nhiên với thứ tự từ số nhỏ đến số lớn theo chiều quy định tại khoản 2 Điều này. Hai chữ số hàng chục và hàng đơn vị ghi số căn hộ, hai chữ số hàng nghìn và hàng trăm chỉ tầng nhà có căn hộ đó.

- Chiều đánh số căn hộ

+ Trường hợp ngôi nhà chung cư có một cầu thang ở giữa, bố trí hành lang giữa hoặc không có hành lang thì chiều đánh số căn hộ hoặc phòng được thực hiện theo chiều quay kim đồng hồ, bắt đầu từ căn hộ đầu tiên phía bên trái của người bước lên tầng nhà đó.

Trong trường hợp ngôi nhà có nhiều cầu thang, bố trí hành lang giữa thì chọn cầu thang có vị trí gần nhất tiếp giáp với lối đi vào. Chiều đánh số thực hiện theo nguyên tắc trên;

+ Trường hợp ngôi nhà có hành lang bên thì chiều đánh số căn hộ theo chiều từ trái sang phải của người đứng quay mặt vào dãy căn hộ, bắt đầu từ căn hộ đầu tiên, phía bên trái.

2.3. Nguyên tắc đánh tên nhóm nhà

Căn cứ Điều 6 và Điều 7 Quyết định 05/2006/ QĐ - BXD về việc ban hành quy chế đánh só và gắn biển số nhà quy định:

"Điều 6. Nguyên tắc đánh tên nhóm nhà

Trong một khu có nhiều nhà tạo thành các nhóm nhà mà các lối đi giữa các nhóm nhà không được đặt tên (đường, phố, ngõ, ngách) thì cần phải đánh tên nhóm nhà theo quy định sau:

1. Việc đánh tên nhóm nhà áp dụng chữ cái in hoa của tiếng Việt (A, B, C…) sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Việt với chiều theo nguyên tắc sắp xếp của các nhóm nhà trong khu vực đó.

2. Trường hợp khu nhà trong một biển số nhà, có nhiều nhóm nhà thì chiều đánh tên nhóm nhà được bắt đầu từ nhóm nhà nằm gần lối vào khu nhà đi dần vào phía cuối khu nhà. Trường hợp các nhóm nhà nằm 2 bên trục đường giao thông nội bộ thì chiều đánh tên nhóm nhà cũng xác định theo phương pháp này, các nhóm nhà nằm phía bên trái đường nội bộ đánh tên A,C, Đ, G, I,…, các nhóm nhà phía bên phải đường nội bộ đánh tên B, D, E, H, K...."

"Điều 7. Nguyên tắc đánh tên ngôi nhà trong một nhóm nhà

Tên ngôi nhà trong nhóm nhà được viết bằng tên ghép của tên nhóm nhà và số thứ tự của ngôi nhà trong nhóm nhà đó (ví dụ: A10, B15, C4.....). Trong đó, tên nhóm nhà được xác định theo quy định tại Điều 6 của Quy chế này; số thứ tự của ngôi nhà được dùng là các số tự nhiên (1, 2, 3..., n). Chiều đánh số thứ tự của ngôi nhà trong mỗi nhóm nhà được xác định theo nguyên tắc sắp xếp các ngôi nhà trong nhóm nhà đó."

3. Thủ tục cấp biển số nhà ra sao ?

Bước 1: Chủ sở hữu làm Đơn đề nghị cấp, đổi biển số nhà nộp lên UBND huyện/quận/thị xã và nộp lệ phí cấp, đổi biển số nhà.

Bước 2: Sau khi xác nhận thông tin, UBND cấp Giấy chứng nhận số nhà theo mẫu. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận tùy thuộc mỗi địa phương.

* Lưu ý: Giấy chứng nhận số nhà được sử dụng khi cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức làm thủ tục liên quan đến địa chỉ và không có giá trị công nhận quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng.

4. Lệ phí cấp biển số nhà

- Trường hợp cấp mới: không quá 45.000 đồng/1 biển số nhà.

- Trường hợp cấp lại: không quá 30.000 đồng/1 biển số nhà.

HĐND cấp tỉnh quyết cụ thể lệ phí này.

5. Một số lưu ý khi gắn biển số nhà

- Mỗi căn nhà/căn hộ được gắn 1 biển số nhà.

- Trường hợp thay đổi biển số nhà, thì biển số nhà cũ vẫn giữ nguyên, đồng thời gắn thêm biển số nhà mới.

- Trường hợp 1 căn nhà có nhiều cửa ra vào từ nhiều đường, phố, hẻm, hẻm cụt khác nhau thì biển số nhà được gắn ở phía cửa đi chính.

- Nếu nhà ở cửa chính ở tại góc 2 đường, phố, hẻm, hẻm cụt thì được đánh số và gắn biển theo đường, phố, hẻm, hẻm cụt lớn hơn.

- Biển số nhà được gắn tại mặt tiền nhà, giữa phần cột hoặc tường, bên trái cửa đi chính, theo chiều từ phía ngoài vào nhà, tại độ cao 2.5m so với độ cao vỉa hè.

- Nếu nhà có hàng rào thì gắn tại trụ sở cổng chính, bên trái, theo chiều từ phía ngoài vào nhà với độ cao 2m so với vỉa hè.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & phân tích)