>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp gọi số: 1900.6162

 

b) Xây dựng, quản lý hệ thống thông tin doanh nghiệp; cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có yêu cầu theo quy định của pháp luật;

c) Yêu cầu doanh nghiệp báo cáo về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khi xét thấy cần thiết cho việc thực hiện các quy định của Luật này; đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo của doanh nghiệp;

d) Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh;

đ) Xử lý vi phạm các quy định về đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và yêu cầu doanh nghiệp làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật này;

e) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về những vi phạm trong việc đăng ký kinh doanh;

g) Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.

Tình huống: Công ty trách nhiệm hữu hạn X có hai thành viên là A và B. Tháng 8/2007, A vay tiền của T và N. Đồng thời với thỏa thuận vay tiền, các bên ký hợp đồng chuyển nhượng phần vốn cho T và N để làm đảm bảo cho khoản vay và không nộp cho Phòng Đăng ký kinh doanh.

Tháng 01/2008, công ty trách nhiệm hữu hạn X mất giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và làm thủ tục để được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngày 31/01/2008, công ty đã được cấp lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, đến ngày 17/3/2008, A nhận được thông tin là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 31/01/2008 đã được thay thế bằng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008 trong đó A và B không còn có tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nữa mà thay vào đó là tên của T và N.

A cho rằng việc thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008 là giả mạo vì A và B không ký bất cứ văn bản nào chuyển nhượng phần vốn của mình. Vì vậy, A đã là đơn gửi Phòng đăng ký kinh doanh khiếu nại về việc thay đổi đăng ký kinh doanh giả mạo nhưng Phòng đăng ký kinh doanh không hợp tác. A lại tiếp tục đề nghị Phòng đăng ký kinh doanh cung cấp hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008 nhưng Phòng đăng ký kinh doanh từ chối cung cấp với lý do A không phải là thành viên của công ty nữa đồng thời chỉ cấp cho A bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008.

Sau thời gian dài yêu cầu Phòng đăng ký kinh doanh cung cấp hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008, A cũng chỉ được cung cấp bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008, còn hồ sơ thay đổi Phòng  đăng ký kinh doanh từ chối cung cấp cho A với lý do A không còn là thành viên công ty. Vì vậy, ngày 11/12/2009, A đã làm đơn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị hướng dẫn thủ tục để có được hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh ngày 01/02/2008 từ Phòng đăng ký kinh doanh.

Ngày 26/01/2010, Cục phát triển doanh nghiệp Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trả lời đơn của A trong đó nêu rõ theo quy định tại Khoản 2 Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp thông tin về nội dung đăng ký kinh doanh và theo quy định tại Khoản 3 Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì cơ quan đăng ký kinh doanh có nghĩa vụ cung cấp theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

Như vậy, trong tình huống trên, Phòng đăng ký kinh doanh đã không làm đúng trách nhiệm của mình. Hiểu đúng Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2005 thì bất kỳ cá  nhân, tổ chức nào cũng có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký kinh doanh cung cấp hồ sơ. Việc viện dẫn lý do A không phải là thành viên để từ chối cung cấp hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh trong tình huống trên là không đúng quy định.

Theo Luật gia: Cao Bá Khoát

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)