1. Giám đốc thẩm là gì?

Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

2. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Căn cứ kháng nghị là cơ sở pháp lý để các chủ thể có thẩm quyền kháng nghị dựa vào đó yêu cầu Tòa án xem xét lại vụ án bằng việc ra quyết định kháng nghị. Bao gồm:

- Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

Kết luận của tòa án trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án có nghĩa là tòa án đã giải quyết vụ án không đúng với bản chất của sự việc.

Các tình tiết khách quan của vụ án là những tình tiết tồn tại ngoài ý muốn của con người. Để đánh giá nhận thức đúng về các tình tiết vụ án, Tòa án phải cso quan điểm toàn diện và khách quan. Mỗi tình tiết phải được tòa án xem xét thận trọng, đánh giá đầy đủ các mặt, các mối liên hệ của nó và phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng với các tình tiết khác của vụ án. Tòa án phải lấy sự thật làm căn cứ, không được suy diễn hoặc đưa ra những kết luận có tính chất chủ quan trước về vụ án khi chưa xem xét, đánh giá toàn bộ các tình tiết vụ án.

Kết luận của tòa án không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án được thể hiện dưới dạng chưa đủ các chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án nhưng tòa án vẫn thực hiện việc giải quyết vụ án nên quyết định của tòa án thiếu cơ sở; Tòa án đánh giá sai chứng cứ, tài liệu của vụ án nên quyết định giải quyết vụ án sai…

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ trình tự thủ tục do BLTTHS quy định. Đây là căn cứ mà BLTTHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận, đồng thời có bổ sung đáng chú ý là “dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Căn cứ này chỉ được coi là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi những vi phạm này dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Nếu có vi phạm nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án thì có thể không cần thiết phải kháng nghị.

- Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Về căn cứ “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” BLTTHS năm 2015 đã mở rộng hơn so với BLTTHS năm 2003. Trước đây giới hạn ở những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự thì nay xác định là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, tức là ngoài Bộ luật Hình sự thì còn các luật khác như BLTTHS, các luật chuyên ngành. Các sai lầm này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

3. Vì sao thẩm quyền giám đốc thẩm trong BLTTHS 2015 lại khác so với BLTTHS 2003?

Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, hệ thống tổ chức các Tòa án nhân dân có sự thay đổi. Các Tòa án nhân dân cấp cao được thành lập; tại Tòa án nhân dân tối cao không còn các tòa chuyên trách. Hơn nữa, để bảo đảm cho việc xét xử giám đốc thẩm nhanh gọn, kịp thời nhưng vẫn đảm bảo sự thận trọng cần thiết khi xem xét quyết định đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền giám đốc thẩm một cách linh hoạt, hiệu quả và bảo đảm sự đồng bộ với Luật tổ chức Tòa án nhân dân.

4. Thẩm quyền giám đốc thẩm theo BLTTHS 2003

Điều 279 BLTTHS 2003 quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm như sau:

Điều 279. Thẩm quyền giám đốc thẩm

1. ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện. ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự cấp quân khu giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực.

2. Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu.

3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự trung ương, của Toà hình sự, các Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao bị kháng nghị.

4. Những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau được quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều này thì cấp có thẩm quyền cấp trên giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

5. Thẩm quyền giám đốc thẩm theo BLTTHS 2015

Theo Điều 382 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định như sau:

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị bằng Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán hoặc bằng Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Úy ban Thẩm phán giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 03 Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị.

- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán hoặc bằng Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong trường hợp bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 05 Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.

Khi xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm Chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa số thành viên tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán Toà án nhân dân cấp cao, ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.

- Những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có điểm mới rất quan trọng về thẩm quyền giám đốc thẩm là ngoài ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba người hoặc năm người. Chỉ trong trường hợp bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm 03 hoặc 05 Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì mới thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

6. Thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật của một số nước

Nghiên cứu luật tố tụng hình sự của một số nước, có thể nhận thấy, xu hướng chung của các nước là quy định chủ thể có quyền giám đốc thẩm rất hạn chế, hầu hết chỉ quy định một cấp Tòa án có quyền giám đốc thẩm, tập trung quyền này vào một tòa duy nhất là Tòa phá án hoặc Tòa án tối cao. Các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada đều quy định theo hướng này. Luật tố tụng hình sự cộng hòa Pháp quy định thẩm quyền phá án thuộc tòa phá án. Cũng có một số nước như Liên bang Nga, Trung Quốc, quy định ngoài Tòa án tối cao, một số Tòa án khác cũng có quyền giám đốc thẩm. Theo quy định tại Điều 403 BLTTHS Liên bang Nga, thẩm quyền giám đốc thẩm gồm có ba cấp như sau: Ủy ban thẩm phán của Tòa án tối cao nước Cộng hòa; Tòa án vùng, khu vực; Tòa án thành phố thuộc liên bang và Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự vùng, khu vực; Ủy ban thẩm phán về các vụ án hình sự và Ủy ban thẩm phán Tòa án quân sự thuộc Tòa án tối cao liên bang; Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao Liên bang Nga. Do tổ chức nhà nước Liên bang Nga là nhà nước liên bang nên thẩm quyền giám đốc thẩm gồm nhiều cấp nhưng nếu xét trong phạm vi nước Cộng hòa thì chỉ có một cấp thuộc Tòa án tối cao nước Cộng hòa; còn ở liên bang có hai cấp thuộc Tòa án tối cao liên bang.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)