1.  Giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là thủ tục đặc biệt, chỉ được tiến hành khi có kháng nghị giám đốc thẩm. Đó là đặc điểm khác biệt so với các thủ tục xét xử thông thường như sơ thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có khởi kiện hợp pháp của đương sự), phúc thẩm (đương nhiên được thực hiện khi có kháng cáo hợp pháp của đương sự hoặc các kháng nghị của Viện kiểm sát). Các Thẩm phán không tham gia trực tiếp giám đốc thẩm cũng có thể tham gia vào trình tự giám đốc công tác xét xử bằng việc phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm.

Đối tượng của việc kháng nghị giám đốc thẩm chỉ là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Kháng nghị và giám đốc thẩm là cơ chế nhằm khắc phục sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án mà bản án, quyết định đó đã có hiệu lực. Vì vậy, cấp giám đốc thẩm không phải là cấp xét xử thứ 3 sau sơ thẩm và phúc thẩm.

2. Phiên tòa giám đốc thẩm theo BLTTHS 2003

Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm được quy định tại Điều 280:

Điều 280. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm

Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp.

Khi xét thấy cần thiết, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm.

 Điều 282 quy định về chuẩn bị phiên tòa và thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm:

Điều 282. Chuẩn bị phiên tòa và thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm

1. Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán làm bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi trước cho các thành viên Hội đồng chậm nhất là bảy ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.

2. Tại phiên tòa, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.

Nếu đã triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử.

3. Phiên tòa giám đốc thẩm theo BLTTHS 2015

Về phiên tòa giám đốc thẩm được quy định tại các điều 383, 384, 385, 386 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cùng với việc kế thừa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng có những điểm mới:

- Theo Điều 383, những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm bao gồm: Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp (thay cho quy định chung chung là Viện kiểm sát cùng cấp như Bộ luật cũ). Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc trường hợp có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án giám đốc thẩm phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.

- Thay cho quy định một Thẩm phán chung chung, thiếu rõ ràng, Điều 384 quy định để chuẩn bị cho phiên tòa giám đốc thẩm, Chánh án phân công cho một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm nghiên cứu hồ sơ và làm bản thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình và các tài liệu có liên quan phải được gửi trước cho các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mồ phiên tòa giám đốc thẩm.

- Điều 386 quy định thủ tục phiên toà giám đốc thẩm như sau:

+ Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của Hội đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm chưa rõ trước khi thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị.

Trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ Hên quan đến việc kháng nghị có mặt thì những người này được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.

+ Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

+ Các thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến của mình và thảo luận. Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố quyết định về việc giải quyết vụ án.

Như vậy, Điều 386 quy định tương đối cụ thể, chi tiết về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm, thể hiện vai trò của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm. Lần đầu tiên, Bộ luật tố tụng hình sự năm năm 2015 quy định người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị có quyền có mặt và tranh tụng với Kiểm sát viên tại phiên tòa giám đốc thẩm. Đây là những điểm mới quan trọng về thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm.

4. Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định 4 căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm. Theo quy định tại Điều 371 BLTTHS năm 2015 thì chỉ còn 3 căn cứ, đó là: (1) Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (2) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; (3) Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.

Căn cứ “việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ” đã được bỏ là hợp lý vì thực chất đây là hình thức vi phạm trong xét xử, một trong các trường hợp thuộc căn cứ thứ hai của điều luật là vi phạm thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử. Thực tế chưa có văn bản nào hướng dẫn thế nào là “phiến diện”, là “không đầy đủ”, dẫn đến những nhận thức khác nhau, là một trong những vướng mắc khi thực hiện BLTTHS năm 2003.

Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ trình tự thủ tục do BLTTHS quy định. Đây là căn cứ mà BLTTHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận, đồng thời có bổ sung đáng chú ý là “dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án”. Căn cứ này chỉ được coi là căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi những vi phạm này dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Nếu có vi phạm nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng và không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án thì có thể không cần thiết phải kháng nghị.

Về căn cứ “có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật” BLTTHS năm 2015 đã mở rộng hơn so với BLTTHS năm 2003. Trước đây giới hạn ở những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật Hình sự thì nay xác định là có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, tức là ngoài Bộ luật Hình sự thì còn các luật khác như BLTTHS, các luật chuyên ngành. Các sai lầm này cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án, xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng.

5. Về thời hạn giám đốc thẩm

Thời hạn giám đốc thẩm được quy định tại Điều 385 BLTTHS 2015 là “Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa.”. Như vậy, điều luật quy định thời hạn xét xử chung cho các cấp giám đốc thẩm là 4 tháng và không quy định gia hạn thời hạn xét xử giảm đốc thẩm.

Tham khảo luật tố tụng của một số nước cho thấy thời hạn giám đốc thẩm được quy định ngắn hơn Việt Nam rất nhiều. Theo quy định tại Điều 571 BLTTHS Cộng hòa Pháp “Tòa hình sự Tòa phá án phải xét xử trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày có quyết định của Chánh tòa về việc chấp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị, phá án. Điều 406 BLTTHS Liên bang Nga quy định: trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết phải ra được quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm. Trường hợp chấp nhận thì phải chuyển kháng cáo hoặc kháng nghị giám đốc thẩm cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án giám đốc thẩm giải quyết. Theo Điều 407 của Bộ luật này, thì kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm phải được Tòa án cấp giám đốc thẩm giải quyết tại phiên tòa trong thời hạn 15 ngày, đối với Tòa án tối cao Liên bang Nga không quá 30 ngày kể từ ngày có quyết định chấp nhận giải quyết kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, tổng thời hạn giám đốc thẩm theo Luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga tối thiểu là 45 ngày, tối đa là 60 ngày. Theo các điều 225 và 204 BLTTHS Thái Lan thì Tòa phúc thẩm DIKA phải mở phiên tòa công khai để nghe các bên tranh luận trong vòng 15 ngày; kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án. Nếu có lý do đặc biệt, Tòa có thể ấn định ngày nghe các bên tranh luận sau 15 ngày nhưng không được quá 2 tháng. Như vậy, theo pháp luật tố tụng Thái Lan, thời hạn giám đốc thẩm (Phúc thẩm DIKA) tối đa là 2 tháng. Theo điều 207 BLTTHS Trung Quốc, việc xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày ra quyết định lấy vụ án lên trực tiếp xét xử, nếu cần gia hạn thì thời hạn trên không được quá 6 tháng. Luật tố tụng hình sự của một số nước khác cũng quy định thời hạn giám đốc thẩm ngắn…

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)