Giá dự thầu phải bao gồm tất cả các chi phí cho các yếu tố rủi ro và chi phí trượt giá có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên để đưa chi phí dự phòng vào giá gói thầu và hướng dẫn thanh toán cho nhà thầu chi phí này vẫn còn nhiều bất cập. Với hạn mức quy định tại điều 63 nghị định 63, thì giá gói thầu có quy mô nhỏ là là gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa có giá trị gói thầu không quá10 tỷ đồng; gói thầu xây lắp, hỗn hợp có giá trị gói thầu không quá 20 tỷ đồng. Hiện nay với cách tính chi phí dự phòng thông dụng hiện nay thì chi phí dự phòng khoảng 10% chi phí xây lắp sau thuế tương ứng với giá trị khoảng 1 tỷ đồng với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, khoảng 2 tỷ đồng với gói thầu xây lắp, hỗn hợp. Nếu đưa chi phí dự phòng này vào giá gói thầu và hướng dẫn nhà thầu phân bổ vào trong đơn giá, thì trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có rủi ro và trượt giá thì nhà thầu sẽ dùng chi phí này để bù đắp, nhưng nếu không có rủi ro và trượt giá thì nhà thầu đương nhiên được hưởng toàn bộ phần giá trị này. Với giá trị khoảng 1-2 tỷ đồng như trên, liệu khi thanh tra, kiểm toán có xem đây là sai sót không? Nếu đưa chi phí dự phòng này vào giá gói thầu và mời riêng như một hạng mục đồng thời sẽ điều chỉnh trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có rủi ro và trượt giá thì thanh toán, nếu không có rủi ro và trượt giá thì không thanh toán thì có xem đây là hình thức hợp đồng trọn gói được không? Mong sớm nhận được thư giải đáp. Xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Doanh nghiệp của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn doanh nghiệp trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật Đấu thầu 2013;

Thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT ngày 06/05/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu xây lắp;

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Nội dung trả lời:

Theo Điều 62 luật đấu thầu 2013:

Điều 62. Loại hợp đồng

1. Hợp đồng trọn gói:

a) Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng. Việc thanh toán đối với hợp đồng trọn gói được thực hiện nhiều lần trong quá trình thực hiện hoặc thanh toán một lần khi hoàn thành hợp đồng.Tổng số tiền mà nhà thầu được thanh toán cho đến khi hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng bằng đúng giá ghi trong hợp đồng;

b) Khi áp dụng hợp đồng trọn gói, giá gói thầu để làm căn cứ xét duyệt trúng thầu phải bao gồm cả chi phí cho các yếu tố rủi rocó thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, chi phí dự phòng trượt giá.Giá dự thầu phải bao gồm tất cả các chi phí cho các yếu tố rủi ro và chi phítrượt giá có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng;

c) Hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng cơ bản. Khi quyết định áp dụng loại hợp đồng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, ngườiphê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải bảo đảm loại hợp đồng này phù hợp hơn so với hợp đồng trọn gói. Đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phitư vấn đơn giản; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ phải áp dụng hợp đồng trọn gói;

d) Đối với gói thầu xây lắp, trong quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng, các bên liên quan cần rà soát lại bảng khối lượngcông việc theo thiết kế được duyệt; nếu nhà thầu hoặc bên mời thầu phát hiện bảngsố lượng, khối lượng công việc chưa chính xác so với thiết kế, bên mời thầu báocáo chủ đầu tư xem xét, quyết định việc điều chỉnh khối lượng công việc để bảo đảmphù hợp với thiết kế;

đ) Khi áp dụng hợp đồng trọn gói, chủ đầu tư đối vớidự án, bên mời thầu đối với mua sắm thường xuyên, đơn vị mua sắm tập trung hoặcđơn vị có nhu cầu mua sắm đối với mua sắm tập trung chịu trách nhiệm về tínhchính xác của số lượng, khối lượng công việc. Trường hợp sử dụng nhà thầu tư vấnđể lập hồ sơ thiết kế, hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu thì trong hợp đồng giữa chủđầu tư, bên mời thầu, đơn vị mua sắm tập trung hoặc đơn vị có nhu cầu mua sắm vớinhà thầu tư vấn phải có quy định về trách nhiệm của các bên trong việc xử lý, đềnbù đối với việc tính toán sai số lượng, khối lượng công việc.

..."

Điều 5 thông tư số 03/2015/TT-BKHĐT quy định về chi phí dự phòng như sau;

Điều 5. Chi phí xây dựng, chi phí hạng mục chung và chi phí dự phòng

1. Giá gói thầu phải bao gồm chi phí xây dựng, chi phí hạng mục chung và chi phí dự phòng.

2. Chi phí dự phòng bao gồm: chi phí dự phòng trượt giá, chi phí dự phòng phát sinh khối lượng và chi phí dự phòng cho các khoản tạm tính (nếu có).

Việc xác định chi phí dự phòng thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về quản lý chi phí xây dựng công trình và đặc thù của gói thầu. Chủ đầu tư căn cứ quy mô, tính chất, thời gian, địa điểm thi công của gói thầu và những yếu tố liên quan khác để quyết định việc sử dụng chi phí dự phòng nhưng phải bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành về quản lý chi phí xây dựng công trình.

3. Đối với hợp đồng trọn gói, nhà thầu phải tính toán và phân bổ chi phí dự phòng vào trong giá dự thầu; không tách riêng phần chi phí dự phòng mà nhà thầu đã phân bổ trong giá dự thầu để xem xét, đánh giá trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu về tài chính, thương mại.

Như vậy, phần chi phí dự phòng không tách riêng khi tính toán giá cả mà mỗi hạng mục của dự án đã phải được tính toán bao gồm chi phí dự phòng. Việc phân bổ chi phí dự phòng đều trong tất cả các hạng mục sẽ không làm nảy sinh vấn đề khi kiể tra kiểm toán nếu không phát sinh các vấn đề rủi ro, trượt giá. Không tách riêng chi phí dự phòng yêu cầu nhà thầu phải cân nhắc tất cả các yếu tố rủi ro, trượt giá... phát sinh trong quá trình thực hiện dự án để đưa ra giá cả hợp lý nhất trong hồ sơ dự thầu.

Theo các quy định về hợp đồng trọn gói thì chi phí dự phòng không được tách riêng mà phải phân bổ trong giá dự thầu. Chi phí dự phòng là hạng mục bắt buộc phải có đối với hợp đồng trọn gói nên không thể tách riêng thành một hạng mục độc lập với giá thầu, nếu phát sinh các vấn đề rủi ro, trượt giá... thì mới thanh toán giá trị phát sinh tương đương như bạn nói được. 

Hợp đồng trọn gói là hợp đồng có giá cố định trong suốt thời gian thực hiện đối với toàn bộ nội dung công việc trong hợp đồng, do đó, tách hạng mục chi phí dự phòng để diều chỉnh theo tình hình thực tế là không phù hợp với bản chất của loại hợp đồng này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng  cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. 

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật doanh nghiệp qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DOANH NGHIỆP