1. Khái quát về đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, hoặc tổ chức chính trị - xã hội đều có thể thành lập. Đơn vị này có tư cách pháp nhân, và nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công nhằm phục vụ quản lý nhà nước, như được định nghĩa tại khoản 1 Điều 9 của Luật Viên chức năm 2010.
Ngoài ra, Nghị định 120/2020/NĐ-CP tại khoản 1 Điều 3 cũng xác định đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài. Cụ thể, đây là các cơ quan thuộc Bộ, ngang Bộ hoặc thuộc cơ quan của Chính phủ được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và trụ sở ở nước ngoài.
Để được coi là có tư cách pháp nhân, đơn vị cần tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 74 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm việc được thành lập theo quy định của pháp luật, có cơ cấu tổ chức, tài sản độc lập, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, và có khả năng nhân danh mình độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật.
Một ví dụ cụ thể về đơn vị sự nghiệp công lập là Trường Đại học Luật Hà Nội, là cơ sở đào tạo bậc đại học, trực thuộc Bộ Tư pháp. Danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tư pháp được quy định tại Quyết định 1902/QĐ-TTg, bao gồm cả Trường Đại học Luật Hà Nội và các tổ chức khác như Nhà Xuất bản Tư pháp, trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột, trường Trung cấp Luật Vị Thanh, trường Trung cấp Luật Thái Nguyên, trường Trung cấp Luật Đồng Hới, và trường Trung cấp Luật Tây Bắc.
Ngoài ra, ví dụ có thể kể đến danh sách 5 đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Tài chính được liệt kê, trong đó có 3 đơn vị thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ như Học viện Tài chính, Trường Đại học Tài chính - Kế toán, Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh. Đồng thời, có 1 đơn vị thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính là Nhà xuất bản Tài chính, và Trường Cao đẳng Tài chính - Hải quan thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Điều kiện sáp nhập đơn vị sự nghiệp công thuộc lĩnh vực tài chính mới nhất
Các điều kiện về sáp nhập và hợp nhất đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực tài chính được quy định tại Điều 6 của Thông tư 72/2023/TT-BTC như sau:
- Quá trình sáp nhập hoặc hợp nhất đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực tài chính được tiến hành khi cơ quan hoặc tổ chức có đơn vị sự nghiệp công lập khác phù hợp về chức năng và nhiệm vụ để sáp nhập hoặc hợp nhất, và đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực tài chính đó đáp ứng một trong những điều kiện sau:
+ Điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại điểm a, Khoản 2, Điều 5 Nghị định 120/2020/NĐ-CP.
+ Hoạt động không hiệu quả trong hai năm liên tiếp theo đánh giá của cơ quan có thẩm quyền, hoặc nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, phục vụ quản lý nhà nước của đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Không đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu theo quy định tại điểm d, Khoản 1, Điều 5 Nghị định 120/2020/NĐ-CP.
+ Không đảm bảo mức độ tự chủ từ 30% trở lên chi thường xuyên, hoặc có 30% số lượng người làm việc trở lên được hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 Thông tư này (đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập trước ngày Thông tư này có hiệu lực), hoặc không còn khả năng đảm bảo mức độ tự chủ theo quy định tại Khoản 2, Điều 4 Nghị định 120/2020/NĐ-CP (đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập từ ngày Thông tư này có hiệu lực).
+ Không đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có).
- Trong trường hợp sáp nhập hoặc hợp nhất các đơn vị sự nghiệp công lập có mức độ tự chủ tài chính như nhau, đảm bảo không làm giảm mức độ tự chủ về tài chính hiện có của các đơn vị. Trong trường hợp thực hiện sáp nhập hoặc hợp nhất các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính ở các mức độ khác nhau, thì mức độ tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập sau khi sáp nhập hoặc hợp nhất được thực hiện theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- Đơn vị sự nghiệp công lập hình thành sau quá trình sáp nhập hoặc hợp nhất phải đáp ứng đủ điều kiện để thành lập theo quy định tại Điều 5 của Thông tư 72/2023/TT-BTC và các quy định pháp luật liên quan.
3. Tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tài chính mới nhất
Tại Điều 4 của Thông tư 72/2023/TT-BTC, các tiêu chí phân loại đơn vị sự nghiệp công lập từ ngày 01/02/2024 được quy định như sau:
Theo quy định này, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tài chính được thực hiện dựa trên 2 tiêu chí chính:
(1) Phân loại theo thẩm quyền thành lập:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Chính phủ.
- Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.
- Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập theo thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
(2) Phân loại theo mức độ tự chủ:
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm cả chi thường xuyên và chi đầu tư.
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên.
- Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên.
- Đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.
Căn cứ theo Điều 8 của Thông tư 72/2023/TT-BTC, quy định trong Thông tư sẽ có hiệu lực từ ngày 01/02/2024. Do đó, các quy định mới về phân loại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tài chính theo Thông tư 72/2023/TT-BTC sẽ chính thức áp dụng kể từ thời điểm này.
4. Điều kiện giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tài chính
Điều kiện giải thể đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực tài chính quy định tại Điều 7 Thông tư 72/2023/TT-BTC. Theo đó, việc giải thể đơn vị sự nghiệp công lập sẽ được thực hiện trong trường hợp có một trong những điều kiện sau đây:
(1) Không còn chức năng, nhiệm vụ theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
(2) Không xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, phục vụ quản lý nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
(3) Không đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP, và cơ quan, đơn vị không có đơn vị sự nghiệp công lập khác phù hợp về chức năng, nhiệm vụ để sáp nhập, hợp nhất.
(4) Không đảm bảo mức độ tự chủ từ 30% trở lên chi thường xuyên hoặc có 30% số lượng người làm việc trở lên được hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 72/2023/TT-BTC (đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập trước ngày Thông tư này có hiệu lực) hoặc không còn khả năng đảm bảo mức độ tự chủ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP (đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập từ ngày Thông tư này có hiệu lực), và cơ quan, đơn vị không có đơn vị sự nghiệp công lập khác phù hợp về chức năng, nhiệm vụ để sáp nhập, hợp nhất.
(5) Không đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành (nếu có).
(6) Đáp ứng một trong các điều kiện quy định tại điểm c, điểm d khoản 3 Điều 5 Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
Đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện quá trình giải thể sau khi hoàn thành nghĩa vụ về tài chính, tài sản, đất đai, các khoản vay, nợ phải trả và các nghĩa vụ khác có liên quan, và được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận bằng văn bản.
Bài viết liên quan: Đơn vị sự nghiệp công lập là gì? Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!