1. Tình trạng khẩn cấp là gì?
Tình trạng khẩn cấp có thể xảy ra sau khi xuất hiện những thảm họa tự nhiên như bão lụt, hỏa hoạn, động đất, sóng thần, dịch bệnh, …, hoặc thảm họa do con người tạo ra như bạo loạn có vũ trang, lật đổ chính quyền, …mà gây thiệt hại về tính mạng, tài sản của cá nhân, tổ chức, nhà nước, xã hội.
Tuy nhiên, chỉ khi những thảm họa này xảy ra trên thực tế và đã làm thay đổi trạng thái xã hội bình thường của đời sống con người, nhà nước, xã hội, tạo nên những tình huống đặc biệt đòi hỏi phải có biện pháp ứng phó đặc biệt nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục hậu quả, để đảm bảo an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhà nước, xã hội, cá nhân thì mới gọi là tình trạng khẩn cấp.
Như vậy, tình trạng khẩn cấp là tình huống đặc biệt nghiêm trọng ở một quốc gia mà trong đó cơ quan nhà nước được trao quyền thực hiện các hành động, hoặc áp đặt các biện pháp mà theo Hiến pháp sẽ không được phép thực hiện trong bối cảnh bình thường giúp chính phủ có thể hành động nhanh chóng để xử lý tình hình trong bối cảnh cấp thiết.
2. Điều kiện công bố quy định pháp luật Việt Nam
Điều 1 Pháp lệnh tình trạng khẩn cấp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 23/3/2000 quy định điều kiện công bố tình trạng khẩn cấp là khi trong cả nước hoặc nhiều địa phương có thảm họa lớn do thiên nhiên hoặc con người gây ra, có dịch bệnh nguy hiểm lây lan trên quy mô rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước và tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tài sản của nhân dân hoặc có tình hình đe dọa nghiêm trọng đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội”.
Ngoài ra, điều kiện công bố tình trạng khẩn cấp còn được quy định cụ thể tại các văn bản luật chuyên ngành:
- Luật Quốc phòng 2018: Khi có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy ra hành vi xâm lược hoặc bạo loạn có vũ trang nhưng chưa đến mức tuyên bố tình trạng chiến tranh (khoản 10 Điều 2);
- Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm 2007: Khi dịch lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người và kinh tế – xã hội của đất nước (khoản 1 Điều 42);
- Luật Thú y 2015: Khi dịch bệnh động vật lây lan nhanh trên diện rộng, đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe con người hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế – xã hội (khoản 6 Điều 26).
Như vậy, những văn bản pháp luật trên sẽ là điều kiện, cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền công bố tình trạng khẩn cấp đối với quốc gia.
3. Thẩm quyền công bố
Khoản 10 Điều 74 Hiến pháp Việt Nam 2013 Ủy ban thường vụ Quốc hội có thẩm quyền ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương. Trình tự của việc quyết định và công bố thường chia 2 công đoạn: công đoạn quyết định và công đoạn công bố.
- Công đoạn quyết định thuộc thẩm quyền của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Công đoạn công bố thuộc thẩm quyền của Nguyên thủ quốc gia – Chủ tịch nước (khoản 5 Điều 88 Hiến pháp 2013)
Ngoài ra, trình trạng khẩn cấp còn được quy định chi tiết hơn tại Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2000. Điều 2 của Pháp lệnh này quy định: Theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra nghị quyết về tình trạng khẩn cấp. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không họp, thì theo đề nghị của Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch nước ra lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp.
4. Chính sách quản lý hành chính đối với tình trạng khẩn cấp
Điều, 6, Điều 7, Điều 8 Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 quy định những biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân sau đây:
- Cấm người, phương tiện ra, vào trên địa bàn, khu vực nhất định;
- Cấm người, phương tiện hoạt động trong thời gian nhất định;
- Trưng dụng phương tiện, tài sản của tổ chức, cá nhân;
- Đóng cửa nhà hát, rạp chiếu bóng và các nơi sinh hoạt công cộng khác;
- Cấm bãi công, bãi khóa, bãi thị;
- Cấm, giải tán các cuộc biểu tình, các cuộc tụ tập đông người và những hoạt động của cá nhân, tổ chức;
- Đình chỉ hoạt động giao thông đường bộ, đường không, đường sắt, đường thủy;
- Hạn chế xuất, nhập cảnh, quá cảnh; tạm dừng việc xuất cảnh, nhập cảnh đối với một số trường hợp đã được cấp thị thực;
- Kiểm soát phương tiện thông tin đại chúng; kiểm duyệt xuất bản; đình chỉ việc xuất bản;
- Áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với việc sử dụng các phương tiện liên lạc.
Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 còn quy định những biện pháp bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp sau đây:
- Người bị bắt hoặc bị tạm giữ theo quy định của pháp luật phải được xử lý theo thủ tục tố tụng hình sự hoặc thủ tục xử lý vi phạm hành chính (khoản 1 Điều 14);
- Người bị bắt và bị xử phạt hành chính do vi phạm quy định về cấm đi lại, nếu có giấy tờ tùy thân hợp lệ thì được trả tự do ngay sau khi hết thời gian cấm đi lại; trong trường hợp người bị bắt không có giấy tờ tùy thân thì bị tạm giữ cho đến khi xác minh được về nhân thân của người đó nhưng không quá bảy mươi hai giờ (điểm c khoản 2 Điều 14);…
Ngoài ra, các văn bản luật chuyên ngành còn quy định bổ sung một số biện pháp hạn chế, bảo đảm quyền con người, quyền công dân khác trong tình trạng khẩn cấp.
5. Tại sao phải ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh?
Đại dịch Covid-19 đã khiến thế giới bị đảo lộn, phá vỡ hoàn toàn trật tự cuộc sống. Tại Việt Nam, trong bối cảnh đối phó với dịch Covid-19, ngày 30/1/2020, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu chuẩn bị cơ sở pháp lý để sẵn sàng công bố tình trạng khẩn cấp liên quan đến dịch viêm phổi.
Điều này là bởi theo quy định tại các Khoản 1 Điều 2 và Khoản 1 Điều 3 Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm, Covid-19 có thể được xem là bệnh truyền nhiễm với tác nhân gây bệnh là vi rút Corona, vì vậy, có căn cứ để tuyên bố tình trạng khẩn cấp theo quy định tại Luật này.
Theo các thông lệ quốc tế, tình trạng khẩn cấp là một tình huống cho phép chính quyền có thể ban hành những chính sách, hoặc thực hiện những hành động mà thông thường không được phép thực hiện, nhân danh lợi ích công cộng.
Những chính sách được chính quyền ban hành trong tình trạng khẩn cấp có thể hạn chế một phần hay toàn bộ một số quyền tự do của người dân, cũng như kích hoạt những cơ chế phản ứng khẩn cấp để đối phó với thảm họa.
Tại Việt Nam cũng tương tự, sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội hay Chủ tịch nước ban hành tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm, sẽ được áp dụng các biện pháp đặc biệt nhằm phòng, chống dịch bệnh. Hiện nay, các biện pháp này được quy định từ Điều 21 đến Điều 28 Nghị định 71/2002/NĐ-CP, điển hình như:
Thứ nhất: Nhằm tổ chức cấp cứu, khám chữa bệnh
Tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp sau đây để tổ chức cấp cứu, khám chữa bệnh cho người bị nhiễm bệnh và có nguy cơ bị nhiễm bệnh:
- Phân loại, sơ cứu, cấp cứu kịp thời người bị nhiễm bệnh theo phác đồ hướng dẫn thống nhất của Bộ Y tế;
- Tổ chức điều trị miễn phí cho những người bị nhiễm bệnh;
- Lập các trạm chống dịch tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp để tiếp nhận, cấp cứu người bị nhiễm bệnh;
- Thành lập các đội cấp cứu lưu động được trang bị dụng cụ y tế, thuốc men, phương tiện để phát hiện và cấp cứu tại chỗ người bị nhiễm bệnh, sẵn sàng chuyển người bị nhiễm bệnh về các trạm chống dịch nơi gần nhất;
- Tập trung phương tiện, thuốc men, trang thiết bị y tế, chuẩn bị giường bệnh, phòng khám, điều trị và bố trí cán bộ y tế chuyên môn trực 24/24 giờ để sẵn sàng cấp cứu, khám chữa bệnh miễn phí cho người bị nhiễm bệnh và người có nguy cơ bị nhiễm bệnh;
- Huy động các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân tham gia cấp cứu, khám chữa bệnh cho người bị nhiễm bệnh, người có nguy cơ bị nhiễm bệnh;
- Các biện pháp cần thiết khác.
Thứ hai: Nhằm hạn chế ra, vào vùng có dịch bệnh; thực hiện kiểm dịch, xử lý y tế đối với người, phương tiện ra vào vùng có dịch bệnh
Tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp có thể áp dụng biện pháp sau đây để hạn chế việc ra, vào vùng có dịch bệnh, thực hiện kiểm dịch và xử lý y tế đối với người, phương tiện ra, vào vùng có dịch bệnh:
- Cấm hoặc hạn chế người, phương tiện không có nhiệm vụ ra, vào vùng có dịch bệnh; trường hợp cần thiết phải ra, vào vùng có dịch bệnh thì phải thực hiện biện pháp kiểm dịch y tế bắt buộc;
- Lập trạm gác, trạm kiểm dịch liên ngành hoặc bố trí các Đội công tác chống dịch khẩn cấp tại các đầu mối giao thông ra, vào vùng có dịch bệnh để kiểm tra, giám sát và xử lý y tế đối với người, phương tiện ra vào;
- Tổ chức tuần tra, kiểm soát trên dọc ranh giới địa bàn có tình trạng khẩn cấp, kịp thời ngăn chặn các trường hợp ra, vào trái phép vùng có dịch bệnh và chủ động phòng, chống dịch có khả năng lan rộng;
- Kiểm dịch bắt buộc đối với hàng hoá, vật phẩm, động vật, thực vật, thực phẩm, đồ uống đưa vào hoặc đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh;
- Kiểm tra và xử lý y tế đối với tất cả các phương tiện ra khỏi vùng có dịch bệnh; chỉ cho phép các phương tiện đã được cấp giấy chứng nhận kiểm dịch y tế ra khỏi vùng có dịch bệnh;
- Các biện pháp cần thiết khác.
Thứ ba: Nhằm triển khai các biện pháp chống dịch khẩn cấp
Tại địa bàn có tình trạng khẩn cấp có thể áp dụng các biện pháp chống dịch khẩn cấp sau đây:
- Tổng tẩy uế, diệt khuẩn, khử độc ổ dịch;
- Tổ chức cách ly và điều trị triệt để cho người bị nhiễm dịch bệnh, tiến hành theo dõi chặt chẽ sau điều trị đề phòng dịch bệnh tái phát;
- Tăng cường kiểm tra, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm tại các cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng;
- Tiêu hủy ngay hàng hoá, vật phẩm có mang tác nhân gây bệnh;
- Tổ chức xử lý y tế và chôn cất người chết, xác động vật theo quy định của pháp luật;
- Tăng cường các biện pháp kiểm tra y tế đối với người, phương tiện nhập cảnh, xuất cảnh, hành lý, hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu theo quy định của pháp luật…
Trên đây là quy định của pháp luật về trường hợp nào ban bố tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh. Có thể thấy, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, dù chưa ban bố tình trạng khẩn cấp, nhiều biện pháp kể trên đã được áp dụng trên thực tế.