Cùng điểm qua các đô thị loại I, II, III, IV, V và đô thị loại đặc biệt tại Việt Nam để hiểu rõ hơn về cấu trúc và phân cấp của hệ thống đô thị trong quốc gia này. Từ những trung tâm tài chính đến những khu đô thị mang tính chất đặc biệt, Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển đa dạng và đồng bộ của các đô thị này.

Tại Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội năm 2016, đã được đề ra các tiêu chí đánh giá và phân loại các khu đô thị trong nước. Các tiêu chí này được xây dựng và áp dụng một cách cụ thể và khoa học, nhằm tăng cường hiệu quả và tính minh bạch trong quy trình phân loại đô thị.

 

1. Đô thị loại I

Tiêu chí để xác định một thành phố thuộc loại đô thị I được đề ra trong Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 là như sau:

Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Thành phố đóng vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh trong nhiều lĩnh vực, bao gồm kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ. Thành phố còn đóng vai trò là đầu mối giao thông và giao lưu trong nước cũng như quốc tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả một vùng liên tỉnh hoặc đất nước.

Quy mô dân số:

  • Thành phố trực thuộc trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1.000.000 người trở lên và khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên.
  • Thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 500.000 người trở lên và khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên.

Mật độ dân số:

  • Toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên.
  • Khu vực nội thành có mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:

  • Toàn đô thị có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt từ 65% trở lên.
  • Khu vực nội thành có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt từ 85% trở lên.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị phải đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Theo tình hình tính đến tháng 12 năm 2021, Việt Nam hiện có tổng cộng 22 thành phố thuộc loại đô thị I. Trong số này, có 3 thành phố trực thuộc trung ương là Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Các thành phố thuộc tỉnh bao gồm Huế, Vinh, Đà Lạt, Nha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Thái Nguyên, Nam Định, Việt Trì, Vũng Tàu, Hạ Long, Thanh Hóa, Biên Hòa, Mỹ Tho, Thủ Dầu Một, Bắc Ninh, Hải Dương, Pleiku và Long Xuyên. Các thành phố này đều đáp ứng các tiêu chí xác định của đô thị loại I theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

 

2. Đô thị loại II

Đô thị loại III là loại đô thị cấp huyện phải đáp ứng các tiêu chí sau:

Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế-xã hội:

  • Vị trí, chức năng, vai trò của đô thị loại III phụ thuộc vào các yếu tố địa lý, kinh tế, văn hóa và xã hội của từng khu vực cụ thể. Nhưng chung quy, đô thị loại III thường đóng vai trò là trung tâm kinh tế - xã hội cấp huyện, là nơi tập trung các hoạt động thương mại, dịch vụ, giáo dục, y tế và hành chính của huyện. Nó có tầm quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân trong huyện đó.
  • Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị loại III đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại Phụ lục 1 đi kèm với Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, bao gồm các chỉ số về GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ mất việc làm, cơ sở hạ tầng, cảnh quan đô thị, giáo dục, y tế, văn hóa, và các lĩnh vực xã hội khác.

Quy mô dân số:

  • Đô thị loại III phải có dân số đạt từ 50.000 người trở lên, thể hiện sự phát triển về quy mô dân số ở cấp huyện.

Mật độ dân số:

  • Mật độ dân số của đô thị loại III nằm trong khoảng từ 1.000 người/km2 trở lên, thể hiện sự tập trung dân cư và hoạt động xã hội trong khu vực này.
  • Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:
  • Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị loại III đáp ứng yêu cầu từ 40% trở lên, đồng thời thể hiện sự đa dạng và phong phú trong cơ cấu nghề nghiệp của người dân.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị:

  • Đô thị loại III phải đảm bảo các tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng và kiến trúc đô thị theo quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13. Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường giao thông, điện, nước, viễn thông và các công trình công cộng đáp ứng nhu cầu của dân cư và hoạt động sản xuất, kinh doanh trong đô thị.

Tính đến ngày 20/4/2022, trên toàn quốc đã có 50 đô thị loại III, chủ yếu là các thành phố thuộc cấp huyện, gồm có: Điện Biên Phủ, Cao Bằng, Hòa Bình, Lai Châu, Sapa, Đà Lạt, Đông Hà, Nha Trang, Đông Hội, Mỹ Tho, Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, Sóc Trăng, Cà Mau, và nhiều đô thị khác trải dài trên khắp các tỉnh, thành phố trên lãnh thổ Việt Nam. Việc phát triển các đô thị loại III là mục tiêu quan trọng trong quá trình xây dựng đô thị hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững cho người dân địa phương.

 

3. Đô thị loại III

Tiêu chí xác định đô thị loại III được quy định trong Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 bao gồm các yếu tố sau:

Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại III có vị trí và vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh. Nó cũng là đầu mối giao thông và giao lưu trong khu vực, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và vùng liên tỉnh.

Quy mô dân số:

  • Đô thị loại III có quy mô dân số toàn đô thị từ 100.000 người trở lên và khu vực nội thành, nội thị đạt từ 50.000 người trở lên.

Mật độ dân số:

  • Mật độ dân số của đô thị loại III phải đạt từ 1.400 người/km2 trở lên. Khu vực nội thành, nội thị phải tính trên diện tích đất xây dựng đô thị và đạt từ 7.000 người/km2 trở lên.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:

  • Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của đô thị loại III phải đạt từ 60% trở lên. Khu vực nội thành, nội thị phải đạt từ 75% trở lên.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị:

  • Đô thị loại III phải đáp ứng các tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng, kiến trúc và cảnh quan đô thị được quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Tính đến ngày 20/4/2022, cả nước có tổng cộng 47 đô thị loại III, trong đó bao gồm 29 thành phố và 18 thị xã. Các thành phố bao gồm Yên Bái, Điện Biên Phủ, Hòa Bình, Hội An, Hưng Yên, Kon Tum, Đông Hà, Bảo Lộc, Hà Giang, Cam Ranh, Cao Bằng, Lai Châu, Tây Ninh, Bắc Kạn, Tam Điệp, Sông Công, Sầm Sơn, Phúc Yên, Hà Tiên, Đồng Xoài, Chí Linh, Long Khánh, Gia Nghĩa, Dĩ An, Ngã Bảy, Thuận An, Hồng Ngự, và Từ Sơn, Phổ Yên. Các thị xã bao gồm Sơn Tây, Cửa Lò, Phú Thọ, Bỉm Sơn, Gò Công, La Gi, Bến Cát, Tân Uyên, Sông Cầu, Long Mỹ, Tân Châu, Cai Lậy, Quảng Yên, Kỳ Anh, Bình Minh, Đông Triều và Phú Mỹ, An Nhơn. Các đô thị này đều đáp ứng tiêu chí xác định đô thị loại III theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

 

4. Đô thị loại IV

Để xác định đô thị loại IV, chúng ta cần xem xét một số tiêu chí quan trọng để đảm bảo đáp ứng các yêu cầu cần thiết:

Vị trí, chức năng, vai trò và cơ cấu kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại IV phải đóng vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện trong nhiều lĩnh vực quan trọng như kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ. Đồng thời, nó cũng phải là trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện.
  • Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đô thị loại IV cần đáp ứng các tiêu chuẩn được quy định tại Phụ lục 1 đi kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13. Điều này bao gồm một loạt các chỉ số như GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ mất việc làm, cơ sở hạ tầng, cảnh quan đô thị, giáo dục, y tế, văn hóa và các lĩnh vực xã hội khác.

Quy mô dân số:

  • Đô thị loại IV cần có dân số từ 50.000 người trở lên để thể hiện quy mô vững chắc và sự đa dạng dân cư trong khu vực này.
  • Trong trường hợp có khu vực nội thị, dân số tại đó phải đạt từ 20.000 người trở lên, cho thấy mức độ tập trung dân cư tại những vùng trung tâm của đô thị.

Mật độ dân số:

  • Mật độ dân số của toàn đô thị loại IV nên đạt từ 1.200 người/km2 trở lên, thể hiện mức độ tập trung dân cư và hoạt động xã hội trong khu vực này.
  • Đối với khu vực nội thị (nếu có), mật độ dân số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị cần đạt từ 6.000 người/km2 trở lên, cho thấy sự sôi động và phát triển của các hoạt động trong trung tâm đô thị.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:

  • Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của toàn đô thị loại IV cần đạt từ 55% trở lên, thể hiện sự đa dạng và phong phú trong cơ cấu nghề nghiệp của người dân.
  • Đối với khu vực nội thị (nếu có), tỷ lệ này cần đạt từ 70% trở lên, chứng tỏ mức độ phát triển cao hơn của các ngành nghề khác nông nghiệp trong đô thị.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị:

  • Đô thị loại IV cần đáp ứng các tiêu chuẩn về cơ sở hạ tầng và kiến trúc đô thị như được quy định tại Phụ lục 1 kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13. Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường giao thông, điện, nước, viễn thông và các công trình công cộng đáp ứng nhu cầu của dân cư và hoạt động sản xuất, kinh doanh trong đô thị.

Hiện tính đến ngày 29 tháng 11 năm 2021, trên toàn quốc đã có tổng cộng 90 đô thị loại IV, bao gồm 31 thị xã, 5 huyện (với 8 thị trấn và 68 xã) và 56 thị trấn (không tính các xã thuộc phần mở rộng của đô thị loại IV). Việc đánh giá và xác định loại hình đô thị này là một phần quan trọng trong quá trình phát triển và quản lý hệ thống đô thị của đất nước, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

 

5. Đô thị loại V

Đô thị loại V được quy định phải đáp ứng một loạt tiêu chuẩn sau đây để đảm bảo sự phát triển và hiệu quả hoạt động của nó:

Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại V đóng vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện, hoặc là trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo và giao thông. Nó đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã.

Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại V phải đạt các tiêu chuẩn về cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội như được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Quy mô dân số:

  • Đô thị loại V có quy mô dân số toàn đô thị từ 4.000 người trở lên.

Mật độ dân số:

  • Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên, và tính trên diện tích đất xây dựng đô thị phải đạt từ 5.000 người/km2 trở lên.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:

  • Đô thị loại V có tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị:

  • Đô thị loại V phải đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, kiến trúc và cảnh quan đô thị quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Hiện tính đến tháng 12 năm 2021, Việt Nam có tổng cộng 674 đô thị loại V trên toàn quốc. Những đô thị này đều đã đáp ứng và tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn và yêu cầu được quy định để được xếp vào loại đô thị V theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13, giúp thúc đẩy sự phát triển bền vững và tiến bộ của các khu vực đô thị.

 

6. Đô thị loại đặc biệt

Theo quy định, đô thị loại đặc biệt là loại đô thị được xác định dựa trên các tiêu chí sau:

Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại đặc biệt có vị trí đặc biệt, đóng vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia và quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ. Nó còn là đầu mối giao thông và giao lưu trong nước cũng như quốc tế, và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội:

  • Đô thị loại đặc biệt phải đạt các tiêu chuẩn về cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội như được quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Quy mô dân số:

  • Đô thị loại đặc biệt có quy mô dân số toàn đô thị từ 5.000.000 người trở lên và khu vực nội thành đạt từ 3.000.000 người trở lên.

Mật độ dân số:

  • Mật độ dân số toàn đô thị phải đạt từ 3.000 người/km2 trở lên. Khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị phải đạt từ 12.000 người/km2 trở lên.

Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp:

  • Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị phải đạt từ 70% trở lên. Khu vực nội thành phải đạt từ 90% trở lên.

Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị:

  • Đô thị loại đặc biệt phải đáp ứng các tiêu chuẩn về trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, kiến trúc và cảnh quan đô thị quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13.

Hiện nay, Việt Nam có hai thành phố được Chính phủ xếp loại là đô thị loại đặc biệt, đó là thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Cả hai đô thị này đã đáp ứng và đạt được các tiêu chuẩn cao nhất của loại đô thị này, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn diện của đất nước