1. Đòi nợ trên mạng xã hội có vi phạm pháp luật không?

Dựa vào quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị định 72/2013/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 27/2018/NĐ-CP liên quan đến các hành vi cấm khi sử dụng dịch vụ mạng xã hội, người sử dụng dịch vụ này cần chịu trách nhiệm đầy đủ về nội dung thông tin mà họ trực tiếp đăng và lan truyền trên các trang mạng xã hội. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Nghị định 72/2013/NĐ-CP, được điều chỉnh và bổ sung bởi Nghị định 27/2018/NĐ-CP, về các hành vi nghiêm cấm lợi dụng việc đăng thông tin sử dụng dịch vụ internet nhằm mục đích thực hiện các hành vi sau:

- Đăng thông tin nhằm mục đích chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, có thể tạo ra hậu quả nghiêm trọng như làm nguy hại đến sự đoàn kết dân tộc, hoặc tuyên truyền các hành vi bạo lực như chiến tranh, khủng bố. Hành động này có thể tạo ra mâu thuẫn, hiểu lầm, và hận thù giữa các dân tộc, tôn giáo, và sắc tộc.

- Sử dụng mạng internet để kích động, tuyên truyền các hành vi vi phạm pháp luật như bạo lực, đồi trụy, tội ác, dâm ô, và các tệ nạn xã hội khác, hoặc lan truyền thông điệp mê tín dị đoan, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thuần phong, mĩ tục của dân tộc.

- Đăng tải thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật quân sự, an ninh, kinh tế, đối ngoại, và các bí mật khác theo quy định của pháp luật lên các trang mạng xã hội. Đây là một hành vi rất nghiêm trọng và có thể bị xem xét là hành động phạm tội theo nhiều hệ thống pháp luật trên thế giới.

- Đăng tải thông tin không đúng sự thật nhằm mục đích vu khống, tạo ra mất uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân. Đây là một hành vi không đạo đức và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho các bên liên quan. Các hành vi như làm mất uy tín, tuyên truyền thông tin giả mạo có thể vi phạm không chỉ chuẩn mực đạo đức mà còn làm tổn thương danh dự và quyền lợi của người bị ảnh hưởng.

- Đăng tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm bị nghiêm cấm để thực hiện việc mua bán hàng hóa và dịch vụ đó; lan truyền những tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí, hoặc các xuất bản phẩm bị cấm. Các quy định này nhằm đảm bảo rằng thông tin được cung cấp đúng, minh bạch, và không làm tổn thương quyền lợi của người tiêu dùng. Việc vi phạm các quy định này có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý, bao gồm cả xử lý hành chính hoặc hình sự.

- Hành vi giả mạo các chủ thể khác và phát tán thông tin sai sự thật nhằm xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể đó. Đây là một hành vi không đạo đức và có thể vi phạm pháp luật liên quan đến lừa đảo, làm ảnh hưởng đến danh dự và uy tín của người khác. Đối với những trường hợp như vậy, có thể áp dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền lợi và danh dự của các bên bị ảnh hưởng.

Do đó, người sử dụng mạng xã hội phải tuân thủ quy định pháp luật, không được lợi dụng việc sử dụng mạng xã hội để thực hiện các mục đích bị nghiêm cấm, như việc đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, và xúc phạm đến uy tín, danh dự, và nhân phẩm cá nhân. Việc đăng bài đòi nợ trên mạng xã hội không bị cấm và không bị coi là hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc đòi nợ cần được thực hiện một cách trung thực, không sử dụng lời lẽ xúc phạm hoặc thông tin không chính xác nhằm tránh ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của cá nhân hoặc tổ chức liên quan. Trong trường hợp đòi nợ trên mạng xã hội mà có sự lạm dụng, việc này có thể bị xem xét là hành vi vi phạm pháp luật như trên.

2. Xử phạt với hành vi xúc phạm người khác trên mạng xã hội nhằm đòi nợ 

Hành vi đăng tải thông tin trên mạng xã hội với mục đích xâm phạm danh dự, nhân phẩm, và uy tín của người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi khoản 37 Điều 1 Nghị định 14/2022/NĐ-CP. Theo quy định này, người có hành vi xúc phạm người khác trên các trang mạng xã hội có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo các quy định sau đây:

- Áp dụng hình phạt tiền từ 10.000.000 đến 20.000.000 đồng đối với những người có hành vi lợi dụng việc sử dụng mạng xã hội để cung cấp, lan truyền thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm mục đích xúc phạm uy tín của cơ quan tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân.

- Ngoài hình phạt tiền, người vi phạm cũng phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả bằng việc gỡ bỏ các thông tin sai sự thật, gây nhầm lẫn, hoặc các thông tin có nội dung vi phạm pháp luật, theo quy định.

Cần lưu ý rằng, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, mức xử phạt vi phạm hành chính áp dụng cho cá nhân và tổ chức có sự chênh lệch, nghĩa là mức xử phạt đối với tổ chức sẽ là gấp đôi so với cá nhân, nghĩa là từ 20.000.000 đến 40.000.000 đồng. 

Như vậy, hành vi đòi nợ trên mạng xã hội nhằm mục đích xúc phạm người khác sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định pháp luật.

3.  Xúc phạm nhằm đòi nợ người khác trên mạng xã hội có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Hành vi đòi nợ người khác trên mạng xã hội có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, đặc biệt khi hành vi đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự và nhân phẩm của người khác. Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người lợi dụng việc đăng thông tin đòi nợ với mục đích xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hoặc tổ chức, hoặc thông tin đăng tải là thông tin bịa đặt sai sự thật có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội làm nhục người khác.

- Hình phạt cảnh cáo và phạt tiền: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong thời hạn đến 03 năm.

- Hình phạt tù có thời hạn từ 03 tháng đến 02 năm: Người có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm danh dự của người khác có thể bị áp dụng hình phạt tù trong khoảng thời gian nêu trên trong các trường hợp sau: Thực hiện hành vi phạm tội từ hai lần trở lên; Thực hiện hành vi làm nhục đối với hai người trở lên; Sử dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi làm nhục người khác một cách thuận lợi hơn; Thực hiện hành vi làm nhục đối với người đang thi hành công vụ; Thực hiện hành vi làm nhục đối với người có công lao dạy dỗ, nuôi dưỡng, hoặc chăm sóc, chữa bệnh cho người có hành vi phạm tội; Thực hiện hành vi làm nhục người khác thông qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc các phương tiện điện tử; Hậu quả của hành vi làm nhục người khác làm cho nạn nhân bị rối loạn tâm thần và tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

- Hình phạt tù có thời hạn từ 02 đến 05 năm: Trong các trường hợp sau, người có hành vi làm nhục người khác có thể bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn từ 02 đến 05 năm: Hậu quả của hành vi làm nhục người khác đã gây ra rối loạn tâm thần và tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; Nghiêm trọng hơn, hành vi làm nhục người khác gây hậu quả khiến nạn nhân tự sát. Hậu quả không bắt buộc trong trường hợp này.

- Hình phạt bổ sung: Ngoài các hình phạt trên, người có hành vi làm nhục người khác còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc cấm thực hiện các công việc nhất định trong thời hạn từ 01 đến 05 năm.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo luật hình sự?

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!