1. Đối với IIR chậm nộp thuế bổ sung áp dụng lãi chậm nộp khi nào trong năm đầu tiên? 

Đối với các tổ chức kinh doanh quốc tế (IIR), việc xác định thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung là một phần quan trọng của quản lý tài chính và thuế. Theo quy định tại Điều 6 của Nghị quyết 107/2023/QH15 về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu, thời hạn này được quy định rõ ràng để đảm bảo tính đúng đắn và minh bạch trong quá trình nộp thuế.

Đầu tiên, đối với các tổ chức đa quốc gia trong năm đầu tiên áp dụng chế độ thuế này, thời hạn chậm nhất để nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung là 18 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính. Có nghĩa là tổ chức phải thực hiện kê khai và nộp thuế trong vòng mười tám tháng kể từ thời điểm kết thúc năm tài chính.

Về sau, đối với các năm tiếp theo, thời hạn này được rút ngắn xuống còn 15 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính. Đồng nghĩa với việc tổ chức phải hoàn thành quy trình kê khai và nộp thuế trong khoảng thời gian là mười lăm tháng sau khi năm tài chính kết thúc.

Không chỉ giúp đảm bảo tính chính xác và kịp thời trong việc nộp thuế, mà còn tạo ra một môi trường làm việc có trách nhiệm và minh bạch. Việc tuân thủ các quy định về thời hạn nộp thuế không chỉ là nhiệm vụ pháp lý mà còn là một phần quan trọng trong việc xây dựng uy tín và đồng thời củng cố vị thế của tổ chức trên thị trường quốc tế.

Như vậy căn cứ dựa theo quy định trên thì đối với IIR thì thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung là chậm nhất là 18 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính đối với năm đầu tiên tập đoàn đa quốc gia thuộc đối tượng áp dụng. Và đối với các năm tiếp theo thì thời hạn chậm nhất là 15 tháng sau ngày kết thúc năm tài chính.

 

2. IIR doanh nghiệp chậm nộp thuế TTDN bổ sung so bị áp dụng lãi chậm nộp giai đoạn chuyển tiếp?

Căn cứ dựa theo quy định tại khoản 6 Điều 6 của Nghị quyết 107/2023/QH15 có quy định về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế theo Quy định về thuế tối thiểu toàn câu. 

Theo Nghị quyết 107/2023/QH15 về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế dựa trên Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu, trong giai đoạn chuyển tiếp, không có thông tin cụ thể về việc áp dụng lãi chậm nộp trong trường hợp chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung. Cụ thể, không được đề cập đến trong khoản 6 của Điều 6 của Nghị quyết nói về giảm trừ trách nhiệm trong giai đoạn chuyển tiếp. 

Trong giai đoạn chuyển tiếp, không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi vi phạm về khai và nộp Tờ khai thông tin theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu và Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung kèm theo Bản thuyết minh giải trình chênh lệch do khác biệt giữa các chuẩn mực kế toán tài chính.

Nghị quyết chỉ tập trung vào việc không xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm về khai và nộp tờ khai thông tin theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu và tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung kèm theo bản thuyết minh giải trình chênh lệch do khác biệt giữa các chuẩn mực kế toán tài chính.

Tuy nhiên, điều quan trọng là cần theo dõi bất kỳ thông báo hoặc hướng dẫn cụ thể nào từ cơ quan quản lý thuế hoặc tổ chức pháp luật liên quan đến việc áp dụng lãi chậm nộp trong các trường hợp chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung trong giai đoạn chuyển tiếp. Giúp doanh nghiệp có cái nhìn rõ ràng và chính xác về các trách nhiệm và khoản phạt có thể phải đối mặt trong quá trình tuân thủ quy định thuế và tài chính.

Như vậy có thể nhận thấy rằng, hiện nay các quy định của pháp luật liên quan đến việc áp dụng thuế tối thiêu toàn cầu chỉ đề cập đến vấn đề: Trong giai đoạn chuyển tiếp, không xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với hành vi vi phạm về khai và nộp Tờ khai thông tin theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu và Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung kèm theo Bản thuyết minh giải trình chênh lệch do khác biệt giữa các chuẩn mực kế toán tài chính.

Tuy nhiên, Nghị quyết 107/2023/QH15 vẫn chưa có hướng dẫn về việc có áp dụng lãi chậm nộp hay không.

 

3. Số thuế bổ sung tại một nước sẽ được xác định bằng không trong một năm tài chính

Căn cứ dựa theo Điều 12 của Điều 5 Nghị quyết 107/2023/QH15 

Theo quy định của Điều 12 trong Điều 5 của Nghị quyết 107/2023/QH15, số thuế bổ sung tại một quốc gia có thể được xác định là 0 (không) trong một năm tài chính nếu một đơn vị hợp thành hoặc một tập hợp các đơn vị hợp thành liên quan đồng thời đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Doanh thu bình quân theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu tại quốc gia đó phải dưới 10 triệu EUR. Điều kiện đầu tiên để số thuế bổ sung được xác định là 0 (không) tại một quốc gia trong một năm tài chính là doanh thu bình quân theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu tại quốc gia đó phải dưới mức 10 triệu EUR. Đây là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá quy mô hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp.

Khi doanh thu trung bình hàng năm của một doanh nghiệp không vượt quá ngưỡng 10 triệu EUR, thường chỉ ra rằng doanh nghiệp có thể thuộc vào nhóm các doanh nghiệp nhỏ hoặc trung bình. Trong bối cảnh này, việc áp dụng mức thuế bổ sung có thể tạo ra áp lực tài chính không cần thiết và có thể đặt ra trở ngại cho sự phát triển của doanh nghiệp.

- Thu nhập bình quân theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu tại quốc gia đó phải dưới 01 triệu EUR hoặc ghi nhận lỗ. Một yếu tố quan trọng khác trong việc xác định việc áp dụng thuế bổ sung là thu nhập bình quân theo Quy định về thuế tối thiểu toàn cầu tại quốc gia đó, phải dưới mức 01 triệu EUR hoặc ghi nhận lỗ. Đây là một chỉ báo quan trọng về hiệu suất và sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp.

Khi thu nhập trung bình hàng năm của một doanh nghiệp không vượt quá ngưỡng 01 triệu EUR hoặc ghi nhận lỗ, thường chỉ ra rằng doanh nghiệp đang gặp khó khăn trong việc tạo ra lợi nhuận hoặc có thể đang trong giai đoạn phát triển đầu tiên khi vẫn chưa thể đạt được mức thu nhập ổn định.

Có nghĩa là nếu doanh thu trung bình hàng năm của doanh nghiệp không vượt quá 10 triệu EUR và thu nhập trung bình hàng năm không vượt quá 01 triệu EUR hoặc ghi nhận lỗ, thì doanh nghiệp đó sẽ không phải nộp bất kỳ số thuế bổ sung nào tại quốc gia đó trong năm tài chính đó. Hơn nữa, theo quy định, mỗi năm, nếu các điều kiện quy định tại khoản này được đáp ứng, doanh nghiệp có quyền lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn bằng 0.

Mang lại sự linh hoạt cho doanh nghiệp trong việc quản lý thuế và tài chính, đồng thời cũng thúc đẩy sự minh bạch và công bằng trong hệ thống thuế. Không chỉ giúp giảm bớt gánh nặng thuế cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể đầu tư và phát triển hơn trong một môi trường kinh doanh cạnh tranh. Đồng thời, việc giảm bớt số lượng doanh nghiệp chịu thuế bổ sung cũng có thể giúp cải thiện môi trường đầu tư và thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào quốc gia đó.

Nếu như các bạn còn có những vướng mắc vui lòng liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại 19006162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ một cách chi tiết nhất có thể về thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung

Bên cạnh đó thì các bạn có thể tham khảo thêm bài viết sau đây của chúng tôi: Cách tính tiền chậm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tạm tính chuẩn nhất