1. Đối tượng bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp
Tổ chức: Cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm mà hành vi đó không thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao: Đây có thể liên quan đến các cơ quan nhà nước không thực hiện đúng nhiệm vụ của mình trong việc quản lý lâm nghiệp hoặc vi phạm các quy định liên quan đến lĩnh vực này.
Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam: Đây đề cập đến các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có thể bị xử lý nếu vi phạm các quy định lâm nghiệp.
Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã: Các hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp nếu vi phạm hành chính cũng có thể bị xử lý.
Tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập: Các tổ chức, đơn vị sự nghiệp do nhà nước quản lý, hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp và vi phạm hành chính cũng nằm trong phạm vi xử lý.
Tổ chức nghề nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Lâm nghiệp: Các tổ chức hoạt động nghề nghiệp trong lĩnh vực Lâm nghiệp nếu vi phạm hành chính cũng có thể bị xử lý.
Cá nhân: Các cá nhân trong nước và cá nhân nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực Lâm nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam đều nằm trong phạm vi xử lý.
Những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sẽ thực hiện theo quy định tương ứng với từng loại vi phạm và từng đối tượng vi phạm trong lĩnh vực Lâm nghiệp
2. Đơn vị tính để xác định thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra trong lĩnh vực lâm nghiệp
Diện tích rừng hoặc diện tích có cây trồng chưa thành rừng tính bằng mét vuông (m2) hoặc héc ta (ha): Đây là thông tin về diện tích của khu vực rừng hoặc diện tích đất có cây trồng nhưng chưa được coi là rừng. Diện tích này được đo bằng đơn vị mét vuông (m2) hoặc héc ta (ha), tùy vào quy định của từng quốc gia hoặc vùng miền.
Khối lượng gỗ tính bằng mét khối (m3): Đây là thông tin về lượng gỗ trong khu vực đó, được tính bằng đơn vị mét khối (m3). Khối lượng gỗ thể hiện thể tích của gỗ trong không gian, thường được sử dụng để đo lượng gỗ được khai thác hoặc sử dụng.
Đơn vị tính và phương pháp xác định số lượng, khối lượng lâm sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Đây là quy định về cách tính và đo lường số lượng và khối lượng của lâm sản (gỗ và các sản phẩm từ rừng) theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Quy định này có thể bao gồm cách đo lường, công thức tính và đơn vị đo lường cụ thể.
Đối với tang vật vi phạm là gỗ, khi xử phạt vi phạm hành chính phải quy thành gỗ tròn. Quy đổi khối lượng các loại gỗ xẻ, gỗ đẽo thành gỗ tròn bằng cách nhân với hệ số 1,6: Trong trường hợp vi phạm hành chính liên quan đến gỗ, khi áp dụng biện pháp xử phạt, các loại gỗ đã bị tách ra (xẻ, đẽo) sẽ được quy về dạng gỗ tròn. Quá trình quy đổi khối lượng từ gỗ xẻ, đẽo thành gỗ tròn được thực hiện bằng cách nhân với hệ số 1,6. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác trong việc xác định giá trị và lượng gỗ thực tế.
Động vật rừng, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật rừng thuộc loài thông thường; động vật rừng, bộ phần cơ thể hoặc sản phẩm của động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB; sản phẩm của động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB; thực vật rừng ngoài gỗ và sản phẩm gỗ xác định trị giá bằng tiền Việt Nam, đơn vị tính là đồng: Đây là cách xác định đơn vị tính và giá trị của các loại tang vật rừng. Cụ thể:
Các loại động vật rừng thông thường sẽ được tính theo loài và đơn vị đo lường thường sử dụng cho động vật (ví dụ: con, cá thể).
Các loài động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm sẽ được xác định theo các danh mục quốc tế hoặc quốc gia, và việc xác định giá trị và đơn vị đo lường có thể khác nhau tùy theo nhóm và mức độ nguy cấp.
Các sản phẩm của động vật rừng và thực vật rừng khác gỗ sẽ được xác định giá trị bằng tiền Việt Nam và đơn vị tính là đồng.
3. Quy định pháp luật về việc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính
Mức phạt tiền cho cá nhân và tổ chức:
Cá nhân vi phạm: Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực Lâm nghiệp đối với cá nhân là 500.000.000 đồng.
Tổ chức vi phạm: Tổ chức vi phạm áp dụng phạt tiền bằng 2 lần mức phạt tiền với cá nhân có cùng hành vi và mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực Lâm nghiệp đối với tổ chức là 1.000.000.000 đồng.
Xử phạt hành vi vi phạm về gỗ, thực vật rừng:
Nếu hành vi vi phạm liên quan đến gỗ, thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, thì áp dụng xử phạt tương tự như đối với gỗ, thực vật rừng ngoài gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA.
Xử phạt về các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp:
Đối với các loài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, áp dụng xử phạt như đối với thực vật rừng, động vật rừng thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I.
Đối với các loài thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, áp dụng xử phạt như đối với thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm II.
Xử phạt đối với động vật rừng và động vật hoang dã:
Hành vi vi phạm đối với động vật rừng thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB, IIB hoặc động vật hoang dã thuộc Phụ lục I, II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, được ưu tiên bảo vệ, áp dụng xử lý như đối với động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Đối với động vật hoang dã trên cạn khác, áp dụng xử phạt như đối với động vật rừng thông thường.
Xử phạt theo tính chất và mức độ vi phạm:
Trường hợp hành vi vi phạm gây hậu quả vượt quá mức hậu quả quy định tại khung tiền phạt cao nhất đối với hành vi vi phạm đó, áp dụng khung tiền phạt cao nhất và các biện pháp khắc phục hậu quả tương ứng với khung phạt đó để xử phạt.
Xử phạt hành vi vi phạm đối với rừng đã quy hoạch cho mục đích khác:
Nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại đối với rừng đã quy hoạch cho mục đích khác nhưng chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định chuyển mục đích sử dụng rừng, áp dụng xử phạt theo quy định đối với loại rừng tương ứng trước khi quy hoạch cho mục đích khác.
Trách nhiệm của người thi hành công vụ, nhiệm vụ quản lý rừng:
Người thi hành công vụ, nhiệm vụ quản lý rừng có trách nhiệm xác định phạm vi, ranh giới, diện tích rừng hoặc diện tích có cây trồng chưa thành rừng bị tác động, bị thiệt hại để ghi vào biên bản vi phạm hành chính. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt có thể yêu cầu giám định để xác định diện tích bị thiệt hại, bị tác động.
Tổng cộng, những điểm này cung cấp hướng dẫn cụ thể về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp và bảo vệ môi trường, bao gồm các mức phạt, phạm vi áp dụng, và cách xử lý tùy thuộc vào tính chất và mức độ của vi phạm. Điều này nhằm đảm bảo việc bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên trong lĩnh vực này.
Xem thêm>>> Đất lâm nghiệp là gì? Quản lý, phân loại và sử dụng đất lâm nghiệp
Liên hệ tổng đài 1900.6162 hoặc lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc.
Trân trọng !