1. Khái quát chung về động cơ phạm tội

Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Nhu cầu của con người khi đã được nhận thức đầy đủ và có khả năng thực hiện thì có thể trở thành động cơ. Hành vi của con người được thúc đẩy của một hoặc một số động cơ nhất định. Đối với hành vi phạm tội cố ý bao giờ cũng do động cơ phạm tội thúc đẩy. Chỉ những hành vi phạm tội vô ý vì cẩu thả, vì quá tự tin thì hành vi phạm tội đó không do động cơ phạm tội thúc đẩy. Có những trường hợp chủ thể hành động không theo ý muốn của mình mà có sự điều khiển chi phối của các chủ thể khác, dẫn đến hành vi phạm tội. Vì vậy, có những người thực hiện hành vi phạm tội không nhận biết hành vi của mình là hành vi phạm tội hoặc tin hành vi của mình không trở thành hành vi phạm tội. Do vậy, nghiên cứu động cơ phạm tội là một trong công việc quan trọng của hoạt động tư pháp.
Các nhà luật học cho rằng tội phạm chủ yếu thực hiện do trả thù, ghen tuông và các động cơ côn đồ và nhu cầu sinh lý. Vậy, những nhân tố tâm lý chiều sâu nào phản ánh các động cơ này và ý nghĩa chủ quan của nó ở chỗ nào?
Mỗi hành vi và hành động của con người kể cả hành động tội phạm được qui định không chỉ một mà nhiều động cơ nằm trong các quan hệ thứ tự phức tạp, có những động cơ chủ đạo thúc đẩy hành động tạo ra ý nghĩa cá nhân. Ví dụ như đa số các trường hợp ăn cắp không chỉ có động cơ vụ lợi mà còn có động cơ tự khẳng định nhân cách đối với các nhóm. Ngoài ra qua các nghiên cứu cho thấy rằng chính các động cơ chủ đạo là mang tính không ý thức được, do đó trong nhiều trường hợp tội phạm không thể giải thích một cách rõ ràng tại sao chúng lại thực hiện tội ác. 
>> Xem thêm: Phân tích dấu hiệu động cơ và mục đích phạm tội trong mặt chủ quan của tội phạm?
 

2. Phân loại động cơ phạm tội

Có thể chia ra các loại động cơ của hoạt động chống xã hội như sau : động cơ bảo vệ; động cơ chuyển dịch; động cơ vui chơi; động cơ tự bào chữa.
 

2.1 Động cơ tự khẳng định

Là động cơ quan trọng nhất, qui định một dãy rộng nhất các hành động con người. Nó thể hiện khuynh hướng con người thể hiện bản thân một cách rõ nhất. Tự khẳng định bản thân ở mức độ xã hội thể hiện ở khuynh hướng chiếm lĩnh vị trí xã hội , tức là hướng tới việc đạt được vị trí vai trò xã hội nhất định, gắn liền với việc công nhận cá nhân đó trong hoạt động xã hội hoặc nghề nghiệp, sự khẳng định mức độ xã hội gắn liền với việc có được uy tín, một địa vị thành đạt, sự bảo đảm về mặt vật chất.
Tự khẳng định ở mặt tâm lý xã hội gắn liền với việc đạt được vị trí nhất định trong nhóm gần gũi như gia đình, nhóm ưa thích, nhưng cũng có thể đó là nhóm mà cá nhân không có quan hệ trực tiếp nhưng lại có khuynh hướng muốn trở thành thành viên. Trong trường hợp tương tự kiểu này, tội ác đã trở thành phương thức của sự gia nhập nhóm này và để đạt được sự công nhận. Điều này thể hiện rõ nhất ở thanh thiếu niên.
Khẳng định nhân cách trên mức độ cá nhân (tự khẳng định) gắn liền với mong muốn đạt được sự đánh giá cao và tự đánh giá cao, sự tự tôn. Để đạt được điều này con người tiến hành một loạt các hành vi mà theo ý kiến của mình vượt qua các mặt khuyết tật và yếu về tâm lý, đồng thời biểu dương những mặt mạnh của mình. Thông thường tự khẳng định xuất hiện một cách vô thức, ví dụ như  đối với bọn tham ô biển thủ thì luôn cố đạt được vị trí xã hội nhất định bằng mọi con đường kể cả con đường tội phạm, không đạt được điều đó được coi như là thảm họa của cuộc đời. Trong các loại khẳng định thì tự khẳng định có vị trí hàng đầu, nó kích thích sự công nhận về mặt xã hội và tâm lý xã hội. Khi tự khẳng định con người cảm thấy mình ngày càng độc lập, trở thành nguồn gốc của sự thay đổi thế giới xung quanh, có khả năng làm cho thế giới đó trở nên an toàn đối với bản thân. Điều này làm con người có khả năng thể hiện trong con mắt xã hội hoặc nhóm mà mình ưa thích. Những sự công nhận này bổ sung cho nhau tạo ra sự thoải mái bản thân và cảm giác an toàn.
Ở loại tham ô và ăn hối lộ thường gặp những người có khuynh hướng khẳng định ở ba mức độ : xã hội, tâm lý xã hội và cá nhân. Còn ở loại trộm cướp, lừa đảo thì ở mức độ tâm lý xã hội và cá nhân. Đôi khi việc thực hiện hành vi tội ác vụ lợi lại giúp cho cá nhân giải quyết một việc gì đó bên trong mà không phải là sự khẳng dịnh vị trí, ví dụ sự có của cải vật chất sẽ làm cho cá nhân tự tin, mất đi tính lo lắng, tạm thời mất đi tính ghen tị và cảm giác yếu kém của bản thân
Tự khẳng định là động cơ phổ biến khi tiến hành hiếp dâm. Hiếp dâm không chỉ là để thỏa mãn nhu cầu sinh lý mà còn là sự thể hiện tâm lý tư hữu và quan hệ nguyên thủy đối với phụ nữ, không chỉ là sự không tôn trọng đối với danh dự, phẩm chất của phụ nữ mà trước tiên là sự khẳng định cá nhân mình bằng phương pháp quái gở và nguy hiểm về mặt xã hội. 
Động cơ chủ quan của hành vi hiếp dâm gắn liền với đặc điểm tự tri giác của tội phạm, với cảm giác về sự không hoàn thiện của bản thân, sự yếu kém với tư cách là đàn ông. Điều này thường ở giai đoạn thuộc về tiềm thức, thường thì cảm giác xúc cảm này có tính chất cố định, con người dường như bị cột chặt vào khách thể (phụ nữ) của sự cùng quẫn này, ước muốn loại bỏ khỏi sự phụ thuộc đồng thời tự khẳng định với vai trò của người đàn ông, và điều này có thể đẩy con người tới hành vi hiếp dâm. 
Đáng chú ý là loại hình hiếp dâm đặc biệt nguy hiểm theo kiểu tấn công bất ngờ những người phụ nữ không quen biết và dùng sức mạnh để đè bẹp sự chống cự của họ. Hành động của những kẻ tội phạm này giống như hành động của những người đi săn chờ đợi con mồi. Trong nhiều trường hợp những kẻ đi săn này được đánh giá là tích cực, họ chăm lo cho gia đình, nhưng đối với những người phụ nữ khác thì thường có cảm xúc âm tính mạnh.
Những loại tội phạm hiếp dâm thường có quan hệ ở vị trí thụ động đối với phụ nữ, phụ nữ chiếm ưu thế và chi phối đàn ông. Thông thường, ở tội phạm, sự đồng hóa vai trò đàn ông bị phá hủy đi cùng với sự căng thẳng mãnh liệt của nhu cầu sinh dục, tập trung đến những quan hệ giới tính sinh dục, không có sự gần gũi về tâm lý - đạo đức. Những người này tuổi thơ thường có mẹ đóng vai trò chủ đạo, độc tài và người cha thì thiếu ý chí và ở vị trí dưới quyền. Khi xây dựng gia đình, về mặt tâm lý họ đã tạo tình huống gia đình tương tự và họ chọn những người phụ nữ giống mẹ về các nét tâm lý – tính cách cũng như hành vi .
“Thợ săn” phụ thuộc không chỉ vào mẹ, vào vợ mà còn vào những người phụ nữ nói chung, bởi vì theo tiềm thức, họ xây dựng quan hệ theo nền tảng mẹ - con. Bởi vậy nội dung của động cơ hãm hiếp một mặt là ước muốn tiêu diệt vị trí chủ đạo về mặt tâm lý của phụ nữ nói chung (không phải những người cụ thể); mặt khác là mong muốn đạt được sự đồng nhất vai trò tính dục đàn ông. Trong hành vi hiếp dâm ước muốn tự khẳng định để có sự độc lập về mặt xúc cảm nhân cách, nhưng không thể nào đạt được sự tự do giải phóng hoàn toàn phụ thuộc tâm lý đối với phụ nữ thông qua con đường một lần hiếp dâm. Vì nguyên nhân này mà những kẻ này lại tiếp tục tấn công bất ngờ đối với phụ nữ thậm chí hàng chục lần.
Ngoài ra theo động cơ này - khuynh hướng muốn loại bỏ sự bức chế của phụ nữ mà đã được hình thành trong tuổi thơ thông qua mẹ, là cơ sở của nhiều trường hợp hiếp dâm cả những người phụ nữ lớn tuổi.
Đối với trường hợp tội phạm đặc biệt nguy hiểm là có những động cơ giết người và hiếp dâm:
Sự xâm phạm tình dục đi cùng với sự biểu hiện tàn bạo, được qui định không chỉ bởi nhu cầu sinh dục của tội phạm mà còn bởi tính cần thiết phải loại bỏ sự phụ thuộc tâm lý đối với phụ nữ như là một biểu tượng trừu tượng có sức mạnh ảnh hưởng đối với tội phạm.
Sự ruồng bỏ của phụ nữ về mặt sinh học cũng như về mặt xã hội ( dùng ở thật và cả giả vờ) đã gây cho họ nỗi sợ hãi mất đi vị trí sinh dục cũng như xã hội của mình. Khi hãm hiếp và giết nạn nhân tức là đã ngự trị hoàn toàn đối với nạn nhân, kẻ tội phạm cảm thấy mình đã trở thành một nhân cách mạnh mẽ. Bằng cách này động cơ tự khẳng định đã được thể hiện
Việc tấn công trẻ em thường được qui định bởi các động cơ vô thức khi cần phải giải thoát khỏi những xúc cảm đã bị tổn thương từ tuổi thơ, do sự không quan tâm về mặt tình cảm của bố mẹ và sự tủi nhục do họ tạo nên. Trong những trường hợp đó thì trẻ con cũng như  thiếu niên là nạn nhân, đồng thời cũng là biểu tượng của tuổi thơ khổ nhục. Tội phạm huỷ diệt biểu tượng này đồng thời tìm cách tự giải phóng khỏi xúc cảm thường xuyên giày vò, trong trường hợp này sẽ có động cơ trút giận.
Việc tấn công về mặt tình dục và giết trẻ em có thể được nảy sinh bởi sự bất lực của tội phạm trong việc thiết lập các quan hệ tình dục bình thường với phụ nữ hoặc là có quan hệ nhưng không đạt được sự thỏa mãn do khiếm khuyết về giống và tuổi.
Động cơ hung bạo đó là sự thỏa mãn về mặt tình dục, cảm giác khoái cảm tình dục khi nạn nhân bị đau khổ và hấp hối. 
Ngoài ra cần phải bổ sung rằng động cơ chủ đạo của việc giết người hàng loạt và hiếp dâm còn là đam mê tiêu diệt mọi cái sống. Tất nhiên không phải mọi kẻ giết người đều là đam mê tạo ra cái chết, không ít những người gây ra hành vi tội phạm do kích động, trả thù, ghen tuông, do áp lực của cuộc sống hoặc do hoàn cảnh. Và có thể họ sẽ hối hận về những gì đã xảy ra. Còn nhân cách đam mê cái chết thì giải quyết tất cả vấn đề bằng con đường tiêu diệt, phá huỷ, đạt được sự khoái cảm thông qua sự giày vò và bắt người khác đau khổ, hay nói cách khác là không thể tồn tại được khi không biến cái sống thành cái chết.
 

2.2 Động cơ bảo vệ

Các nghiên cứu đã cho thấy phần lớn các vụ giết người có ý nghĩa chủ quan – không ý thức được về việc bảo vệ đối với hiểm hoạ bên ngoài mà thực tế là có thể không có. Trong trường hợp này nỗi sợ hãi trước khả năng hung hãn sẽ kích thích hành vi hung hãn trước. Ví dụ thanh niên A khi còn nhỏ thường có hành vi côn đồ đánh bạn cùng tuổi nếu như thấy ai đó đe doạ mình, luôn sẵn sàng chống trả, thường đem dao theo mình. Sau khi phục vụ quân đội xong, đi làm nhà máy đã đấm chủ vì hình như có vẻ xúc phạm anh ta. Một lần khác dùng dao đâm một người chỉ vì cảm giác bị nói xấu. Năm sau khi thấy một nhóm thiếu niên đã tiến đến đâm một thanh niên chết ngay tại chỗ vì nó giải thích rằng “ hắn đã chửi tôi và tôi không thể nào chịu được”. Một điều đáng chú ý là anh ta đã giết không phải người đã lăng mạ anh ta mà là người đứng bên cạnh. Điều đấy nói lên rằng anh ta luôn sẵn sàng tấn công còn sự lăng mạ chỉ là cớ để trút lên tính hung hãn. Đôi khi động cơ bảo vệ đã tạo ra sự hiếp dâm và sau đó là giết nạn nhân. Đó là trường hợp khi mà hành động của phụ nữ (thật hay giả) đã được tội phạm tiếp nhận như là sự sỉ nhục hoặc như là sự đe doạ đến tự đánh giá bản thân với tư cách là đàn ông. Ví dụ phụ nữ tham gia vào trò chơi tình ái với đàn ông, đẩy anh ta vào vai trò thụ động, song phụ nữ chỉ tiến hành trò chơi tình ái đến một mức độ nhất định nhưng đàn ông lại không hiểu điều đó, và khi giới hạn của trò chơi tình ái đã đạt được thì phụ nữ trở nên tàn nhẫn và không lay chuyển. Và hành vi này bất ngờ đã tạo cho đàn ông trạng thái cùng quẩn. Vấn đề không chỉ ở chỗ đàn ông có sự kích thích mạnh về tính dục, đòi hỏi phải thỏa mãn và sự gần gũi tình dục được hiểu như là sự lăng nhục danh dự anh ta, xúc phạm đến lòng tự ái và gây ra sự bùng nổ giận dữ.
 

2.3 Động cơ thay thế

Không ít trường hợp việc thực hiện hành động tội phạm theo cơ chế hành vi thay thế. Thực chất của những hành vi này ở chỗ nếu như mục tiêu ban đầu vì nguyên nhân nào đó không thực hiện được thì con người sẽ tìm mục tiêu khác để đạt được. Cho nên mới cớ sự giải tỏa tâm lý thần kinh trong sự cùng quẫn. Sự thay thế hành động – là sự thay thể trong khách thể tấn công có thể thực hiện thông qua các con đường khác nhau: 
Con đường tản ra – hành vi bạo lực không chỉ chống những người là nguồn gốc của cùng quẫn, mà là những người quen, bà con. Như vậy khi cãi nhau với một người thì con người sẽ hướng đến sự hung hãn của mình tới người thân
Con đường chuyển dịch xúc cảm, khi trẻ căm thù bố dượng sẽ làm hỏng đồ của ông.
Sự hung hãn hướng đến những vật hoặc là người rơi vào tay mình. Đây là kiểu hung hãn đặc biệt nguy hiểm bởi vì khách thể của nó thường là những người yếu đuối, không được che chở
Tự chuyển dịch -  hướng đến sự hung hãn đối với bản than, do không có khả năng trút sự thù địch ra ngoài, con người sỉ vả bản thân và tạo ra cho mình thương tích nhất định.
 

2.4 Động cơ trò chơi

Một trong những động cơ cơ bản của hành vi tội phạm là trò chơi. động cơ này tương đối phổ biến ở trộm cắp, tham ô, lừa đảo, ít có ở những loại tội phạm khác. Đại diện cho những tội phạm trò chơi này là những kẻ thực hiện hành vi không chỉ vì lợi ích vật chất mà còn vì tạo ra cảm giác mạnh. 
Trong tác phẩm “Những cái bánh xe” Atokhali đã mô tả về Ericka - một đạo chích nữ, là người được bảo đảm về mặt vật chất đồng thời có một tâm lý bình thường. Khi đi vào cửa hàng mỹ phẩm cô đã thấy ở trong ngăn của quầy để một hộp nước hoa. “Trong óc Ericka đột nhiên xuất hiện một ý nghĩ không thể tưởng tượng được, ngoài sự minh mẫn bình thường: chính nó là “ loren” - nước hoa yêu thích của mình đây, tại sao mình không lấy nó nhỉ?”.  Ngay lúc đó cô cảm thấy rúng động vì chính ý nghĩ của mình, chính sự xúc động đã ra lệnh cho cô lấy đi và đừng tốn thời gian vô ích, đừng bỏ lỡ cơ hội”. và khi đó dường như chịu một sức hút kì lạ cô ta bình tĩnh tiến gần đến quầy mỹ phẩm, bằng một động tác chính xác cô đã cầm lấy hộp, mở túi của mình và cho nó vào đấy, khóa túi sập lại kêu một cái tách. Tiếng khóa túi vang lên đối với cô như một tiếng súng đại bác. Cô sợ hãi đứng yên không dám động đậy, cô cảm giác rằng bây giờ sẽ có ai đó đặt lên vai cô và một giọng ai đó vang: lên đồ ăn trộm!. Nhưng không có gì xảy ra, Ericka đứng yên, toàn than rung rẩy và cảm giác tim đập mạnh dữ dội. Cô tự hỏi mình làm thế để làm gì? Vì sao cô làm điều ấy, để làm gì ? Bởi vì trong túi cô còn đầy tiền và cả tập sec”. Khi cô ngồi vào ô tô, ý nghĩ này lại xuất hiện trong cô : Cái gì đã thúc đẩy cô làm chuyện này? ý nghĩ xuất hiện và chợt mất ngay đi thay vì một xúc cảm sung sướng chợt ào tới, đã lâu cô chưa thấy cảm dễ chịu như thế này”.
Động cơ trò chơi thường gặp ở các hành động tội phạm của đối tượng trộm cắp móc túi và không ít trường hợp của những kẻ thực hiện trộm cắp ở nhà, cửa hàng. Chúng cũng thể hiện rõ nét ở hành vi  lừa đảo khi có sự đối đầu trí tuệ, đua tranh về sự khéo léo, nhanh trí, biết lợi dụng tối đa điều kiện thuận lợi và ra quyết định nhanh chóng. Lừa đảo bài bạc là trò chơi hai mặt – chơi đúng luật và lừa, qua đó nhận được cảm xúc mạo hiểm mạnh mẽ. Khi nghiên cứu tội phạm bài bạc, các chuyên gia đã chia ra làm hai loại nhân cách và tương ứng có hai loại động cơ đó là trò chơi tích cực và trò chơi biểu diễn.
Loại trò chơi tích cực thể hiện ở khả năng tích cực lâu dài và xung động, chúng có sự đam mê thường xuyên đối với cảm giác mạnh và điều này đẩy chúng tới việc tìm kiếm các tình huống kích thích mạo hiểm, là loại hướng ngoại điển hình, đặc biệt quản giao, cởi mở, chúng luôn tìm kiếm các kích thích bên ngoài, lao theo những trò mạo hiểm liều lĩnh nhất. Chúng không sợ bị vạch trần và không suy nghĩ về hậu quả, “chơi” với luật pháp và đồng bọn chúng dám liều mất tự do hoặc bị xử lý từ phía đồng bọn bởi vì động cơ  của chúng là nhận được cảm giác mạnh.
Loại trò chơi biểu diễn có đặc trưng là tạo ấn tượng mạnh cho người xung quanh, giành vị trí chủ đạo trong nhóm, có tài nghệ sĩ. Chúng dễ thích nghi với môi trường thay đổi và điều đó tạo điều kiện cho chúng dễ thực hiện hành vi tội phạm.
 

2.5 Động cơ tự bào chữa

Một trong những động cơ của tội phạm chung trong đa số các trường hợp đó là động cơ tự bào chữa : phủ nhận tội và không có sự hối hận vì những gì mình đã làm, ít có trường hợp nào là thành khẩn lên án hành động của mình, nhưng nếu có thì lại kèm theo việc trình bày sao cho tội của mình là nhỏ nhất. Ở đây tồn tại cơ chế tự bảo vệ tâm lý, làm vô hiệu hóarào cản của sự kiểm soát pháp luật - đạo đức khi có sự vi phạm các điều cấm về mặt hình sự. Chính trên cơ sở này mà đã xuất hiện sự tự bào chữa và tự giải thóa t bên trong khỏi trách nhiệm đối với tội ác đã được thực hiện. Khi lo lắng hoặc sợ chế tài của pháp luật, cá nhân đã chọn con đường loại bỏ các hậu quả bất lợi của hành vi đi ngược chuẩn mực xã hội của mình, đồng thời vô hiệu hóa sự kiểm soát pháp luật – xã hội th qua việc sử dụng cơ chế tự bảo vệ.
Các động cơ tự bảo vệ của hành vi phạm tội thể hiện ở: 
Quan điểm méo mó về tình huống tội phạm, chủ ý thổi phồng ý nghĩa của một số vấn đề và giảm bớt vai trò của những cái khác. Từ đó xuất hiện những ảo giác về việc không nhất thiết phải áp dụng hình phạt.
Loại bỏ trách nhiệm đối với việc xuất hiện tình huống tội phạm, quan niệm tình huống này như là hoàn cảnh trớ trêu.
Tưởng tượng mình là nạn nhân của sự bội bạc, của sự bức bách, xảo quyệt và lừa đảo của những người khác, hoặc là nạn nhân của bản thân sai lầm của mình để dẫn tới hành vi phạm pháp. 
Có quan điểm cho rằng những chuẩn mực bị sai phạm và những hành vi này chỉ có tính hình thức, chỉ là chuyện bình thường có thể cho phép thực hiện được.
Phủ nhận nạn nhân của tội ác cũng như phương tiện thực hiện. Nói cách khác coi thường các hậu quả và tính nguy hiểm của hành động đã thực hiện.
Làm giảm bớt và tô vẽ vai trò của mình trong vụ việc, đề cao các động cơ thực của hành vi của mình, và do đó họ tự coi mình có thể tha thứ được thậm chí là hợp với luật pháp (bảo vệ sự công bằng).
Xem mình là nạn nhân của tình huống bất bình thường, do đó tất yếu dẫn đến việc gây án.
Khuếch trương phẩm chất cá nhân nhằm khẳng định đặc điểm hiếm có của mình, có quyền đứng trên luật pháp. [Nga]
Hành vi phạm tội không chỉ phụ thuộc vào điều kiện khách quan mà còn phụ thuộc vào chủ thể của hành vi đó.
Một hành vi có ý thức thể hiện ở sự điều khiển có chủ định của ý chí, ở sự hiểu biết bản chất mối quan hệ nhân quả giữa chúng. Chủ thể phải thấy trước kết quả mà hành động của mình sẽ thực hiện (mục đích hành động). Mục đích ấy do chủ thể đặt ra và nhận thức như là yếu tố cần thiết và có khả năng thực hiện trong điều kiện nhất định.
Sau khi nhận thức, đặt ra mục đích, chủ thể phân tích điều kiện, hoàn cảnh thực tế, nghĩa là đưa ra những phương án thích hợp để đạt mục đích. Trên cơ sở những phương án đó cá nhân cân nhắc, lựa chọn tìm phương án tối ưu nhất theo chủ quan của mình.
Việc lựa chọn mục đích do động cơ quyết định. Động cơ là động lực thúc đẩy hành vi của cá nhân. Khi nhu cầu được nhận thức và khả năng thực hiện thì nó trở thành động cơ. 
Động cơ và mục đích có mối liên quan chặt chẽ. Nhờ động cơ thúc đẩy nên người phạm tội mới hành động quyết liệt để đạt mục đích. Trong cấu trúc hoạt động, động cơ là mục tiêu xa bao trùm, mục đích của hành động là mục tiêu gần cụ thể. Vì có sự gắn bó như vậy nên trong thực tế động có và mục đích của hành vi phạm tội đôi khi được dùng thay thế cho nhau.
Tất cả những người phạm tội cố ý đều do động cơ nhất định thúc đẩy. Chỉ trong trường hợp cá nhân vô ý vì cầu thả chưa kịp suy nghĩ thì hành vi của họ không có động cơ phạm tội rõ ràng (thường ở hành vi được thực hiện do xung đột tình cảm được tích tụ lại, hoặc hình ảnh xuất hiện đột ngột kích động con người hành động mà không phân tích kỹ lưỡng hậu quả của hành vi).
Động cơ gắn liền với nhân cách người phạm tội. Vì vậy, việc phát hiện ra động cơ phạm tội và nghiên cứu chúng sẽ có tác dụng lớn lao trong việc xác định mức độ nguy hiểm của cá nhân người phạm tội; dự báo khả năng tái phạm tội của cá nhân,v.v...
Động cơ cũng như mục đích hành động là khái niệm của tâm lý học. Nhưng nó cũng thuộc phạm trù pháp luật hình sự: Động cơ phạm tội là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, một số tội phạm cụ thể động cơ là yếu tố cấu thành bắt buộc.
Sự xuất hiện động cơ và mục đích phạm tội chưa dẫn đến hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội có diễn ra hay không còn phụ thuộc vào hoàn cảnh - tình huống phạm tội. Tình huống đó không có ý nghĩa quyết định độc lập mà nó chỉ củng cố động cơ và mục đích đã được hình thành trước đó và làm xuất hiện ý định phạm tội. Có thể nói vào thời điểm này mục đích phạm tội nổi lên trên hết, mọi ý nghĩ của cá nhân đều tập trung hướng đến kết quả phạm tội. Động cơ, mục đích, ý định phạm tội được gọi chung là ý đồ phạm tội.
Tuy cá nhân chịu trách nhiệm hình sự không phải vì ý đồ của mình mà vi họ chuẩn bị phạm tội (chuẩn bị phạm tội nghiêm trọng) hay đã phạm tội. Rõ ràng ý đồ là cơ sở tâm lý dễ làm cho hành vi phạm tội xảy ra. Ý đồ phạm tội có quan hệ chặt chẽ với việc phân tích, xem xét tình huống - điều kiện khách quan thực hiện tội phạm. Điều kiện khách quan thay đổi có thể làm thay đổi hoặc xuất hiện ý đồ mới, ý đồ biến mất khi không có điều kiện khách quan thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, một số cá nhân vẫn tự nguyện từ bỏ ý đồ phạm tội khi có điều kiện khách quan thực hiện hành vi phạm tội (như trường hợp từ bỏ ngay từ đầu hoặc tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội).
Qua việc phân tích ở trên cho thấy, hành vi phạm tội là sự gặp gỡ giữa yếu tố tâm lý và yếu tố bên ngoài, trong đó có thể coi yếu tố tâm lý là điều kiện cần, còn yếu tố khách quan là điều kiện đủ của hành vi phạm tội.
Thực hiện hành vi phạm tội trong đa số trường hợp gắn liền với việc nhằm đạt mục đích (kết quả) định trước. Sau khi đạt được kết quả người phạm tội thường có những thay đổi trong tâm lý: ăn năn, hối hận, điều này khiến cho người phạm tội nhìn nhận hành vi phạm tội của mình có phê phán, nhiều người đã tự thú, đầu thú trước pháp luật, có trường hợp họ dìm mình vào hoàn cảnh để lãng quên điều xảy ra, v.v...; thỏa mãn với kết quả, việc thỏa mãn với kết quả phạm tội sẽ tăng thêm ý thức đi ngược lại lợi ích của người khác và lợi ích xã hội. Trong trường hợp này, họ thường thận trọng xóa đi dấu vết của hành vi phạm tội, tích cực tìm tòi, suy nghĩ lập kế hoạch cho những hành vi phạm tội mới.
Ở người phạm tội xuất hiện tâm lý, sợ bị phát hiện, sợ bị trừng phạt, gây nên sự căng thẳng. Vì vậy, trong thời gian này người phạm tội thường có những hành động không bình thường: Xuất hiện những hành vi khác thường so với các hành vi trước đây; thường tránh xa địa bàn gây án; tìm cách che giấu hoạt động phạm tội (bí mật xóa dấu vết ở hiện trường, tiêu hủy vật chứng, tạo hiện trường giả, v.v...); có trạng thái tỏ ra bất cần, thản nhiên.