Mục lục bài viết
1. Khái quát chung
1.1 Tâm lý tội phạm và hành vi phạm tội
Tâm lý tội phạm, tâm lý ý thức phạm tội, tâm lý phạm tội là những thuật ngữ có nội dung như nhau: Là tâm lý tiêu cực phản ánh sự tác động của những yếu tố tiêu cực trong môi trường đến cá nhân, định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội của cá nhân.
Hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng phân tích nó cũng là một vấn đề phức tạp, điều này tương tự như những cách hiểu còn khác nhau của các nhà Tâm lý học hoạt động về sự thống nhất giữa tâm lý và hoạt động, hay mối quan hệ con gà với quả trứng. Khi xem xét vai trò của tâm lý đối với hành vi (động cơ, ý đồ, mục đích... ) thì hành vi phạm tội là kết quả của các hiện tượng tâm lý đã hình thành ở cá nhân; nhưng khi xem xét từ phía hậu quả đối với tâm lý của người phạm tội thì hành vi phạm tội lại là nguyên nhân làm nảy sinh, củng cố những hiện tượng tâm lý tiêu cực ở cá nhân, trong đó có tâm lý tội phạm.
1.2 Mối quan hệ giữa hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm
Hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm gắn bó chặt chẽ với nhau thể hiện ở những nội dung:
Thứ nhất: Tâm lý tiêu cực được bộc lộ ra bên ngoài bằng hành vi, nhưng hành vi đó chưa xâm phạm khách thể mà Luật hình sự bảo vệ thì cũng không thể kết tội được người đó và do đó tâm lý tiêu cực đó không thể coi là tâm lý tội phạm. Chỉ khi tâm lý tiêu cực định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội thì tâm lý tiêu cực lúc đó đã có sự biến đổi về chất trở thành tâm lý tội phạm.
Thứ hai: Khi hành vi thực tế của cá nhân là hành vi phạm tội thì tâm lý tội phạm không chỉ gắn với hành vi phạm tội đó mà có thể sau đó nó còn tham gia chi phối hành vi khác của cá nhân, thậm chí trở thành nguyên nhân tâm lý của những hành vi phạm tội tiếp theo của cá nhân. Qua nghiên cứu thực tế đấu tranh với nhóm phạm tội hoạt động kiểu "xã hội đen" đã cho thấy những xúc cảm dương tính nảy sinh, những thủ đoạn được áp dụng tỏ ra hữu hiệu khi các cá nhân phạm tội nào đó, nhưng chưa bị phát hiện và xử lý (dạng tội phạm ẩn); thì tỉ lệ xác xuất chúng chi phối, thúc đẩy cá nhân tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội tiếp theo là rất lớn.
Tâm lý tội phạm chỉ là một bộ phận của tâm lý người phạm tội: Tội phạm là sự thống nhất của hai mặt khách quan và mặt chủ quan. Các dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Như vậy có thể nói rằng, chủ thể tội phạm có rất nhiều hiện tượng tâm lý, nhưng chỉ có một số hiện tượng tâm lý tạo nên mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội và vì vậy các thành phần của tâm lý tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
- Lỗi là dấu hiệu bắt buộc của bất kỳ cấu thành tội phạm nào, là dấu hiệu chính trong mặt chủ quan của tội phạm. Đó là thái độ của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó đã thực hiện và đối với hậu quả đã gây ra. Xử sự của một người không lệ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh mà họ vẫn chủ động được trong cách sử xự của mình; chính vì thế khi họ đã có thái độ, đã quyết định xử sự trái với lợi ích mà Bộ luật hình sự ngăn cấm, thì họ bị coi là có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự. Các hình thức lỗi gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý phạm tội.
- Mục đích phạm tội là kết quả mà người thực hiện tội phạm mong muốn đạt được, mục đích thường được đặt ra trước khi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ một số tội thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp.
- Động cơ phạm tội là nhân tố bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm, trừ một số tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Đối với hành vi phạm tội cố ý thì trước khi phạm tội, cá nhân thường có đấu tranh động cơ. Quá trình đấu tranh đó nhanh hay lâu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: tính cách, tính khí, năng lực - sở trường, sở đoản của cá nhân, cảm nhận của cá nhân về giá trị của "đối tượng khách quan" có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể và tình huống thuận lợi cho việc thỏa mãn đó.
2. Tâm lý người phạm tội
Tâm lý của người phạm tội và tâm lý của người không phạm tội giống nhau ở chỗ: Trong tâm lý của họ đều có cả tâm lý tích cực lẫn tâm lý tiêu cực (không bao hàm tâm lý tội phạm).
Tâm lý của người phạm tội (đã bị phát hiện, bị xử lý và cả tâm lý của người thực hiện tội phạm ẩn) khác tâm lý người không phạm tội ở chỗ trong tâm lý của họ tồn tại tâm lý tội phạm.
Vì vậy, cần gạn đục, khơi trong, tìm kiếm ở cá nhân kể cả ở người chịu án tử hình những hiện tượng tâm lý tích cực, nhất là về xúc cảm, tình cảm dương tính (nó là chỉ số chất người, dù văn minh hay dã man đều có, là món nợ lớn nhất của đời người) để có ứng xử, đối sách cho phù hợp theo hướng: Lấy cái tốt, cái thiện để hạn chế, đẩy lùi cái tiêu cực; đồng thời cần phải đề phòng, cảnh giác với cái xấu, cái tiêu cực, cái ác trong bất kỳ cá nhân nào có thể trỗi dậy, lấn át cái tích cực trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể nào đó.
3. Vị trí của tâm lý học tội phạm
Tâm lý học tội phạm có vị trí quan trọng trong hệ thống các khoa học pháp lý. Nó là một bộ phận cấu thành của tâm lý học pháp lý, nghiên cứu tâm lý người phạm tội cũng như các vấn đề, các khía cạnh tâm lý nảy sinh trong hoạt động phạm tội của tội phạm nhằm giúp cho hoạt động điều tra, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội có kết quả.
Tâm lý học tội phạm cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tội phạm học và khoa học điều tra hình sự.
Tâm lý học tội phạm cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tâm lý học nhân cách, tâm lý học hoạt động,v.v... Nó được nghiên cứu, xây dựng dựa trên lý luận của các ngành tâm lý học nói trên.
Tâm lý học tội phạm là một khoa học: Cuối thế kỷ XIX tâm lý học mới ra đời (1879), trước thời kỳ này đã xuất hiện ít nhiều tác giả, tác phẩm đề cập đến một số vấn đề thuộc về tâm lý của tội phạm: Tác giả người Đức C.Eccart-Sgaiden (1752-1803) đã viết "Những vấn đề tâm lý trong xét xử tội phạm", M.M. Sêrbatốp (1733-1790). Trong các tác phẩm của mình ông đề nghị: khi soạn thảo pháp luật phải chú ý đến đặc điểm cá nhân của nhân cách con người, một trong những vấn đề đầu tiên là tăng cường miễn chấp hành hình phạt. Ông đã đánh giá cao yếu tố lao động trong việc cải tạo, cảm hóa và giáo dục người phạm tội. Năm 1792 nhà triết học người Đức I.Kh.Saumann (1768-1821) xuất bản cuốn sách "Những suy nghĩ về tâm lý học hình sự", đã đề cập đến sự cần thiết vận dụng tâm lý học vào lĩnh vực điều tra tội phạm... Vào cuối thế kỷ XIX ở Nga xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về tâm lý học tư pháp, trong đó có L.E.Vladimirốpva với tác phẩm "Các đặc điểm tâm lý của người phạm tội trong nghiên cứu hiện đại".
Năm 1898, nhà tội phạm học Grans Gross đã có tác phẩm "Tâm lý học tội phạm", đã xác định "tâm lý học tư pháp là một ngành tâm lý học ứng dụng. Cần có ngành khoa học tâm lý ứng dụng đặc trưng để nắm bắt những quy tắc điều khiển các quá trình tâm lý trong hoạt động tư pháp". Có thể coi năm 1898 là sự ra đời của tâm lý học tội phạm.
Tiếp theo tâm lý học hành vi, tâm lý học phân tâm và tâm lý học hoạt động là những trường phái đã có những công trình nghiên cứu ít nhiều đề cập tới cơ chế của hành vi phạm tội vào đầu những năm của thế kỷ XX. Kể từ đó đến nay, tâm lý học tội phạm luôn được quan tâm nghiên cứu và không ngừng phát triển, đáng chú ý có một số công trình sau: “Bảo vệ tâm lý và tự biện hộ trong sự phát sinh hành vi phạm tội” của A.R.Ratinôv và G.Kh.Ephơrêmôva, "Những khía cạnh xã hội - tâm lý của tội phạm vị thành niên” của A.I. Đôngôva (1981), “Động cơ hành vi phi pháp của vị thành niên” của A.P. Tudốp (1982); "Sự sai lệch xã hội” do các nhà khoa học Liên xô (cũ) biên soạn 1984 và đã được tác giả Đức Uy dịch ra tiếng Việt: "Sự sai lệch chuẩn mực xã hội".
Kết quả của các nghiên cứu về tâm lý người phạm tội, nguồn gốc của tâm lý của tội phạm, cơ chế hành vi phạm tội, đã được ứng dụng rộng rãi trong công tác phòng ngừa, phát hiện và điều tra, xử lý tội phạm nhằm giữ gìn ANTT.
4. Vai trò của tâm lý học tội phạm
Tâm lý học tội phạm có vai trò to lớn trong công tác phòng, chống tội phạm. Những kết quả nghiên cứu các vấn đề, các quy luật tâm lý nảy sinh trong hoạt động phạm tội của tội phạm đã góp phần nâng cao hiệu quả của các mặt hoạt động này.
Việc nghiên cứu, làm rõ đặc điểm tâm lý của người phạm tội, những quy luật tâm lý biểu hiện trong hoạt động phạm tội luôn là cơ sở quan trọng cho việc định ra các phương pháp, chiến thuật của hoạt động điều tra, xét xử và quản lý, giáo dục, cải tạo người phạm tội. Nghiên cứu làm rõ đặc điểm tâm lý, nhân cách của đối tượng, bị cáo, của phạm nhân cho phép người tiến hành tố tụng và Cảnh sát trại giam xây dựng chương trình, những biện pháp tác động phù hợp, đảm bảo cho việc hiện thực hoá mục đích của hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án.
Việc nghiên cứu, hoàn thiện lý luận của tâm lý học tội phạm góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bổ sung lý luận cho khoa học điều tra hình sự và khoa học tâm lý pháp lý.