1. Khái quát chung

Để hiểu mọi hành vi của con người trong đó kể cả hành vi của tội phạm nhất thiết phải có sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý của họ cũng như phải có tri thức về cơ chế tâm lý và động cơ của các hiện tượng và quá trình tâm lý xã hội. Tại sao người này lại tiến hành một hành vi tội phạm? tại sao chính người này lại thực hiện hành vi này?. Để trả lời những câu hỏi này cần phải làm rõ hệ thống phẩm chất cá nhân thúc đẩy việc thực hiện hành vi phạm tội. Những nội dung liên quan đến hành vi phạm tội được nhìn từ góc độ tâm lý học sẽ được chúng tôi trình bày dưới đây.

2. Khái niệm hành vi phạm tội

2.1 Tâm lí tội phạm

2.1.1 Tâm lí người

Thế giới tâm lý của con người vô cùng kỳ diệu và phong phú, được loài người quan tâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại. Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, tâm lý học đã được hình thành, phát triển không ngừng và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong nhóm các khoa học về con người.
Trong tiếng Việt, thuật ngữ "tâm lý", "tâm hồn" đã có từ lâu. Từ điển Tiếng Việt (1988) định nghĩa một cách tổng quát: "Tâm lý" là ý nghĩ, tình cảm .... làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người. 
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người thông qua chủ thể, tâm lý người có bản chất xã hội - lịch sử. 
Tâm lý của con người có nguồn gốc là thế giới khách quan, bao gồm cả tự nhiên và xã hội, trong đó yếu tố xã hội nguồn gốc sâu xa, quyết định bản chất tâm lý người (quyết định luận xã hội). Thế giới xã hội như thế nào sẽ nhập vào trong đầu óc của con người như vậy, thế giới xã hội (đen, trắng, xấu, tốt - tích cực hay tiêu cực) thì được phản ánh vào trong não của con người như hiện thực khách quan vốn có. Vậy, từ đó khẳng định rằng: đời sống tâm lý của con người bao gồm cả những hiện tượng tâm lý tích cực và cả những hiện tượng tâm lý tiêu cực có từ môi trường khách quan. Vậy, trong toàn bộ các hiện tượng tâm lý của con người, những hiện tượng tâm lý nào là tâm lý tội phạm?

2.2 Tâm lý tội phạm

Phân tích dưới góc độ của các nhà tâm lý học hoạt động: hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm gắn bó chặt chẽ với nhau. Nhưng phân tích nó cũng là một vấn đề phức tạp, điều này tương tự như những cách hiểu còn khác nhau của các nhà tâm lý học về sự thống nhất giữa tâm lý và hoạt động. Khi xem xét vai trò của tâm lý đối với hành vi (động cơ, ý đồ, mục đích...) thì hành vi phạm tội là kết quả của các hiện tượng tâm lý đã hình thành ở cá nhân; nhưng khi xem xét từ phía hậu quả đối với tâm lý của người phạm tội thì hành vi phạm tội lại là nguyên nhân làm nảy sinh, củng cố những hiện tượng tâm lý tiêu cực ở cá nhân, trong đó có tâm lý tội phạm. Vậy, tâm lý tội phạm chính là những hiện tượng tâm lý tiêu cực, nhưng có phải tất cả những hiện tượng tâm lý tiêu cực đều trở thành tâm lý tội phạm hay không?  
Hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm gắn bó chặt chẽ với nhau thể hiện ở những nội dung dưới đây:
Thứ nhất: Tâm lý tiêu cực được bộc lộ ra bên ngoài bằng hành vi, nhưng hành vi đó chưa xâm phạm khách thể mà Luật hình sự bảo vệ thì cũng không thể kết tội được người đó và do đó tâm lý tiêu cực đó không thể coi là tâm lý tội phạm. Chỉ khi tâm lý tiêu cực tham gia định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội thì tâm lý tiêu cực lúc đó đã có sự biến đổi về chất trở thành tâm lý tội phạm.  
Thứ hai: Khi hành vi thực tế của cá nhân là hành vi phạm tội thì tâm lý tội phạm không chỉ gắn với hành vi phạm tội đó mà có thể sau đó nó còn tham gia chi phối hành vi khác của cá nhân, thậm chí trở thành nguyên nhân tâm lý của những hành vi phạm tội tiếp theo của cá nhân đó. 
Qua nghiên cứu thực tế đấu tranh với nhóm phạm tội hoạt động kiểu "xã hội đen" đã cho thấy những xúc cảm dương tính nảy sinh, những thủ đoạn được áp dụng tỏ ra hữu hiệu với cá nhân phạm tội nào đó, nhưng chưa bị phát hiện và xử lý (dạng tội phạm ẩn); chúng chi phối, thúc đẩy cá nhân tiếp tục thực hiện  hành vi phạm tội tiếp theo là rất lớn.
Tâm lý tội phạm chỉ là một bộ phận của tâm lý người phạm tội: Tội phạm là sự thống nhất của hai mặt khách quan và mặt chủ quan. Các dấu hiệu của mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Như vậy, có thể nói rằng, chủ thể tội phạm có rất nhiều hiện tượng tâm lý, nhưng chỉ có một số hiện tượng tâm lý tạo nên mặt chủ quan của tội phạm là lỗi, mục đích và động cơ phạm tội và vì vậy các thành phần của tâm lý tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội.
- Lỗi là dấu hiệu bắt buộc của bất kỳ cấu thành tội phạm nào, là dấu hiệu chính trong mặt chủ quan của tội phạm. Đó là thái độ của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó đã thực hiện và đối với hậu quả đã gây ra. Xử sự của một người không lệ thuộc hoàn toàn vào hoàn cảnh mà họ vẫn chủ động được trong cách sử xự của mình; chính vì thế khi họ đã có thái độ, đã quyết định xử sự trái với lợi ích mà Bộ luật hình sự ngăn cấm, thì họ bị coi là có lỗi và phải chịu trách nhiệm hình sự. Các hình thức lỗi gồm lỗi cố ý và  lỗi vô ý phạm tội.  
- Mục đích phạm tội là kết quả mà người thực hiện tội phạm mong muốn đạt được, mục đích thường được đặt ra trước khi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ một số tội thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp.
- Động cơ phạm tội là nhân tố bên trong thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm, trừ một số tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Đối với hành vi phạm tội cố ý thì trước khi phạm tội, cá nhân thường có đấu tranh động cơ. Quá trình đấu tranh đó diễn ra nhanh hay lâu phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: tính cách, tính khí, năng lực - sở trường, sở đoản, cảm nhận của cá nhân về giá trị của "đối tượng khách quan" có khả năng thỏa mãn nhu cầu của chủ thể và tình huống thuận lợi cho việc thỏa mãn đó.
Vây, tâm lý, ý thức phạm tội, tâm lý tội phạm là những thuật ngữ có nội hàm tương tự như nhau: Là những hiện tượng tâm lý tiêu cực phản ánh sự tác động của những yếu tố tiêu cực trong môi trường đến con người, nó định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi phạm tội của con người. 

2.3 Tâm lý người phạm tội

Tâm lý của người phạm tội và tâm lý của người không phạm tội giống nhau ở chỗ: Trong tâm lý của họ đều có cả những hiện tượng tâm lý tích cực và tiêu cực (không bao hàm tâm lý tội phạm).
Tâm lý của người phạm tội (đã bị phát hiện, bị xử lý và cả tâm lý của người thực hiện tội phạm ẩn) khác tâm lý người không phạm tội ở chỗ trong tâm lý của họ tồn tại tâm lý tội phạm.
Vì vậy, cần gạn đục, khơi trong, tìm kiếm ở cá nhân kể cả ở người chịu án tử hình những hiện tượng tâm lý tích cực, nhất là về xúc cảm, tình cảm dương tính (nó là chỉ số chất người, dù văn minh hay dã man đều có, là món nợ lớn nhất của đời người) để có ứng xử, đối sách cho phù hợp theo hướng: Lấy cái tốt, cái thiện để hạn chế, đẩy lùi cái tiêu cực; đồng thời cần phải đề phòng, cảnh giác với cái xấu, cái tiêu cực, cái ác trong bất kỳ cá nhân nào có thể trỗi dậy, lấn át cái tích cực trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể nào đó. Vì vậy, cần gạn đục, khơi trong, tìm kiếm ở cá nhân kể cả ở người chịu án tử hình những hiện tượng tâm lý tích cực, nhất là về xúc cảm, tình cảm dương tính (nó là chỉ số chất người, dù văn minh hay dã man đều có, là món nợ lớn nhất của đời người) để có ứng xử, đối sách cho phù hợp theo hướng: Lấy cái tốt, cái thiện để hạn chế, đẩy lùi cái tiêu cực; đồng thời cần phải đề phòng, cảnh giác với cái xấu, cái tiêu cực, cái ác trong bất kỳ cá nhân nào có thể trỗi dậy, lấn át cái tích cực trong hoàn cảnh, tình huống cụ thể nào đó.
Tâm lý người phạm tội là tất cả hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc của người phạm tội, bao gồm hiện tượng tâm lý tích cực và tiêu cực (trong đó có tâm lý tội phạm) điều hành hành vi, hoạt động của họ.

3. Tội phạm

Điều 8. Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2018, quy định:
1. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
- Tội phạm trước hết phải là hành vi của chủ thể, những gì còn tồn tại trong đầu óc dưới dạng tinh thần, tư tưởng, ý nghĩ, ý đồ chưa được chủ thể thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể là tội phạm.
- Thông qua hành vi tội phạm, chủ thể mới có thể gây ra sự nguy hiểm cho xã hội, cũng chính thông qua hành vi của chủ thể có thể xác định được những gì còn tồn tại trong đầu óc dưới dạng tinh thần, tư tưởng, ý nghĩ.
Vậy, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái với pháp luật hình sự và phải chịu phạt.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê