1. Dự trữ bắt buộc là gì?
Dự trữ bắt buộc trong tiếng anh là Reserve Requirements. Dự trữ bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tiền gửi mà các ngân hàng thương mại buộc phải giữ làm dự trữ theo yêu cầu của ngân hàng trung ương. Thông thường, các ngân hàng thương mại phải gửi số tiền này vào một tài khoản đặc biệt ở ngân hàng trung ương. Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng ngân hàng trung ương thường quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau cho các khoán tiền gửi có kỳ hạn khác nhau.
Theo quy định tại Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam năm 2010 thì Dự trữ bắt buộc là số tiến mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngân hàng nhà nước sẽ quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi tại tổ chức tín dụng nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Ngân hàng Nhà nước quy định việc trả lãi đối với tiền gửi dự trữ bắt buộc, tiền gửi vượt dự trữ bắt buộc của từng loại hình tổ chức tín dụng đối với từng loại tiền gửi.
Như vậy các đối tượng áp dụng chính sách dự trữ bắt buộc là các tổ chức tín dụng trong đó bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân.
Tuy nhiên cũng có các tổ chức tín dụng không thực hiện dự trữ bắt buộc như:
- Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt: Thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc từ tháng tiếp theo tháng tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyết định đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt đến hết tháng tổ chức tín dụng được ngân hàng Nhà nước quyết định chấm dứt kiểm soát đặc biệt.
- Tổ chức tín dụng chưa khai trương hoạt động: Thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc đến hết tháng tổ chức tín dụng khai trương hoạt động, tổ chức tín dụng thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng Nhà nước về ngày khai trương hoạt động trong thời gian 3 ngày làm việc kể từ ngày khai trương hoạt động.
- Tổ chức tín dụng được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có quyết định thu hồi Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền. Thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc từ tháng tiếp theo tháng tổ chức tín dụng được chấp thuận giải thể hoặc quyết định mở thủ tục phá sản, thu hồi Giấy phép có hiệu lực, tổ chức tín dụng có quyết định mở thủ tục phá sản gửi Ngân hàng Nhà nước quyết định mở thủ tục phá sản trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định.
Như vậy dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước được xác định theo quy định của pháp luật.
2. Tỷ lệ (Reserve requirements) được quy định như thế nào?
Tỷ lệ (Reserve requirements) là tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ngân hàng nhà nước quy định cụ thể đối với từng tổ chức tín dụng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một trong các yếu tố cấu thành nên công thức tính dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định đối với tổ chức tín dụng tương ứng với tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc áp dụng trong kỳ duy trì dự trữ bắt buộc.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Thông tư số 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng:
- Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng đối với từng loại hình tổ chức tín dụng và từng loại tiền gửi phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ, trừ tỷ lệ dự trữ bắt buộc đới với tiền gửi bằng đồng Việt Nam đối với tổ chức tín dụng quy định ở dưới.
- Đối với tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn được hỗ trợ qua công cụ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam áp dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện các biện pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ để hỗ trợ các tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc hiện nay được áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo Quyết định số 1158/QĐ-NHNN như sau:
- Đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ là 0%.
- Đối với Ngân hàng chính sách thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ theo quy định của Chính phủ.
- Đối với các tổ chức tín dụng trên trong trường hợp được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0% đối với tất cả các loại tiền gửi không phải báo cáo Ngân hàng nhà nước về số dư tiền gửi huy động bình quân phải dự trữ bắt buộc theo quy định về dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng.
- Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Hợp tác xã áp dựng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
- Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hành và có kỳ hành dưới 12 tháng là 7% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.
- Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn 12 tháng trở lên là 5% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.
- Đối với các tổ chức tín dụng khác thì áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
- Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng ngoài tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng ngoài tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không có kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc;
- Tiền gửi bằng ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc.
3. Vai trò của quy định về dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc là một biện pháp điều hành của Ngân hàng nhà nước, nó là một trong những công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng nhà nước khi áp dụng dự trữ bắt buộc sẽ có tác động ít nhiều đến thị trường tài chính.
Dự trữ bắt buộc góp phần đảm bảo tình trạng hoạt động của các ngân hàng. Việc quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ giúp các tổ chức tín dụng tăng khả năng ứng phó khi gặp các vấn đề bất ngờ. Nếu xảy ra khủng hoảng, các tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán cũng có thể sử dụng số tiền này đề giải quyết các vấn đề.
Dự trữ bắt buộc giúp điều chỉnh và kiểm soát cung tiền. Để hạn chế việc các ngân hàng thương mại tạo tiền từ những khoản tiền gửi ban đầu, hạn chế bội số tín dụng tăng lên thì Ngân hàng Nhà nước yêu các các ngân hàng thương mại trích ra một phần tiền và nộp vào ngân hàng mà không được hưởng lãi, khống chế khả năng tạo ra tiền.
Dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến lãi suất của ngân hàng. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng cao có thể ảnh hưởng đến doanh thu của ngân hàng do đó xu hướng của các ngân hàng là thường tăng lãi suất cho vay để bù lại phần chênh lệnh bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Dự trữ bắt buộc góp phần điều chỉnh và kiểm soát tình trạng lạm phát. Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm giảm nguồn cung tiền trên thị trường và áp dụng tăng lãi suất sẽ làm giảm tỷ lệ làm phát và ngược lại.
Đặc biệt nhất là dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán tỷ lệ nghịch. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên thì thị trường chứng khoán có xu hướng giảm và ngược lại.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 hoặc địa chỉ emai lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!