1. Đặc điểm của dự trữ bắt buộc
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà tổ chức tín dụng phải gửi tại Ngân hàng Nhà nước. Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng thực hiện dự trữ bắt buộc 3% đối với khoản tiền gửi không kỳ hạn và dưới 12 tháng; 1% đối với khoản tiền gửi trên 12 tháng. Tuy nhiên, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng có thể được giảm trong một số trường hợp.
Một trong ba công cụ chính của chính sách tiền tệ là dự trữ bắt buộc, hai công cụ còn lại là nghiệp vụ thị trường mở và lãi suất chiết khấu. Các ngân hàng cho khách hàng vay tiền dựa trên một phần tiền mặt mà họ có trong tay. Chính phủ đưa ra yêu cầu để đổi lấy khả năng này: dự trữ một khoản tiền gửi nhất định để trang trải cho việc rút tiền có thể xảy ra. Số tiền này được gọi là dự trữ bắt buộc, và đó là tỉ lệ mà các ngân hàng phải giữ trong dự trữ và không được phép cho vay.
Công cụ dự trữ bắt buộc khá nhạy cảm, khi thay đổi nhỏ trong tỉ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm cho khối lượng tiền tăng lên rất lớn khó kiểm soát.
Bên cạnh đó, một điều bất lợi nữa là khi sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung ứng tiền tệ như việc tăng dự trữ bắt buộc có thể gây nên vấn đề khả năng thanh khoản ngay đối với một ngân hàng có dự trữ vượt mức quá thấp, thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc không ngừng cũng gây nên tình trạng không ổn định cho các ngân hàng. Chính vì vậy sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm phát ít được sử dụng trên thế giới và đặc biệt là những nước phát triển, có nền kinh tế ổn định.
Chính vì vậy sử dụng công cụ dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ qua đó kiểm soát lạm phát ít được sử dụng trên thế giới và đặc biệt là những nước phát triển, có nền kinh tế ổn định.
2. Quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng
Căn cứ theo quy định tại Điều 1 Quyết định 1158/QĐ-NHNN quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng cụ thể như sau:
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ là 0% đối với quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Chính phủ đối với ngân hàng chính sách
- Ngân hàng Hợp tác xã và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
+ Tỷ lệ dữ trữ bắt buộc 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng
+ Tỷ lệ dự trữ vốn bắt buộc 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam kỳ hạn từ 12 tháng trở lên
- Tổ chức tín dụng khác sẽ áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 3% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng
+ Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 1% trên tổng số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài
3. Ví dụ về tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Ví dụ 1: Ngân hàng thương mại cổ phần B (NHTM B) duy trì dự trữ bắt buộc trong tháng 8/2017. Trong đó, theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Quyết định B), tỷ lệ dự trữ bắt buộc quy định đối với loại hình ngân hàng thương mại cổ phần (loại hình tổ chức tín dụng của NHTM B) trong tháng 8/2017 tương ứng với từng loại tiền gửi như sau:
- Tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3%, tiền gửi từ 12 tháng trở lên là 1%;
- Tiền gửi ngoại tệ của tổ chức tín dụng ở nước ngoài là 1%, tiền gửi ngoại tệ phải tính dự trữ bắt buộc khác không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8%, có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6%.
Ví dụ 2: Giả sử một ngân hàng có 300 triệu đô la tiền gửi và được yêu cầu dự trữ 10%. Ngân hàng hiện được phép cho vay 180 triệu đô la, điều này làm tăng mạnh hoạt động tín dụng ngân hàng. Ngoài việc cung cấp một bộ đệm để chống lại các vụ rút tiền hàng loạt và các lớp thanh khoản, dự trữ bắt buộc cũng được Cục Dự trữ Liên bang sử dụng như một công cụ tiền tệ.
Bằng cách tăng dự trữ bắt buộc, Cục Dự trữ Liên bang về cơ bản là lấy tiền ra khỏi cung tiền và tăng chi phí tín dụng. Giảm dự trữ bắt buộc để bơm tiền vào nền kinh tế bằng cách cung cấp cho ngân hàng dự trữ vượt mức, điều này thúc đẩy việc mở rộng tín dụng ngân hàng và giảm lãi suất.
Ví dụ 3: Nếu Ngân hàng trung ương (NHTW) yêu cầu dự trữ bắt buộc ở mức 9%, và một NHTM có tổng tiền gửi của khách hàng là 100 triệu USD, ngân hàng đó bắt buộc phải giữ lại tối thiểu 9 triệu USD để đáp ứng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và 91 triệu USD còn lại sẽ được đem ra lưu thông.
NHTW gia tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế bằng cách giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc từ đó các NHTM có thể cho vay nhiều tiền hơn.
Ngược lại, NHTW giảm lượng tiền lưu thông bằng cách tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, khiến NHTM có ít tiền để cho vay.
4. Quy định về nới lỏng dự trữ bắt buộc cho các tổ chức tín dụng
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã công bố việc ban hành Thông tư số 30/2019/TT-NHNN quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Nội dung chủ yếu quy định về cách xác định dự trữ bắt buộc, duy trì dự trữ bắt buộc, các loại tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc, kỳ xác định và duy trì dự trữ bắt buộc, việc triển khai của TCTD và các đơn vị trong NHNN. Trong đó, có 3 nhóm TCTD không thực hiện dự trữ bắt buộc.
Cụ thể, đối với các tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt, thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc từ tháng tiếp theo tháng tổ chức tín dụng được NHNN quyết định đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt đến hết tháng tổ chức tín dụng được NHNN quyết định chấm dứt kiểm soát đặc biệt. Đối với các TCTD chưa khai trương hoạt động, thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc đến hết tháng tổ chức tín dụng khai trương hoạt động; tổ chức tín dụng thông báo bằng văn bản cho NHNN (Sở Giao dịch) về ngày khai trương hoạt động trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày khai trương hoạt động.
Với các TCTD được chấp thuận giải thể hoặc có quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có quyết định thu hồi giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, thời gian không thực hiện dự trữ bắt buộc từ tháng tiếp theo tháng tổ chức tín dụng được chấp thuận giải thể hoặc quyết định mở thủ tục phá sản, thu hồi Giấy phép có hiệu lực; tổ chức tín dụng có quyết định mở thủ tục phá sản gửi NHNN (Sở Giao dịch) quyết định mở thủ tục phá sản trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản hoặc có quyết định thu hồi giấy phép.
Lưu ý: Các TCTD hỗ trợ là những TCTD được chỉ định tham gia quản trị, kiểm soát, điều hành, hỗ trợ tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.
Bài viết tham khảo: Dự trữ bắt buộc là gì? Tỷ lệ, vai trò dữ trữ bắt buộc theo quy định 2023
Nếu có bất kỳ vướng mắc nào về vấn đề trong bài viết này hoặc các vấn đề pháp lý khác xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp hoặc liên hệ qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Rất mong nhận được sự hợp tác! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!