1. Khái niệm dự trữ ngân hàng

Dự trữ ngân hàng trong tiếng Anh là Bank Reserves. Dự trữ ngân hàng là mức tiền mặt tối thiểu phải được các tổ chức tài chính giữ lại để đáp ứng yêu cầu của ngân hàng trung ương và dự phòng các chi phí và các khoản thanh toán phát sinh. Ngân hàng không thể cho vay khoản dự trữ này mà phải giữ lại trong kho tiền tại ngân hàng đó hoặc tại ngân hàng trung ương, nhằm đáp ứng tất cả các nhu cầu sử dụng tiền phát sinh lớn. Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam qui định lượng dự trữ tiền mặt tối thiểu mà mỗi ngân hàng phải duy trì.

Dự trữ ngân hàng là tiền gửi ngân hàng được phân bổ cho một mục đích cụ thể. Dự trữ pháp lý (Legal Reserves) là các quỹ mà các ngân hàng duy trì trong tài khoản không phát sinh lợi nhuận, tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang hay tại một ngân hàng trung gian, cộng với tiển mặt dự trữ an toàn, nhằm thỏa mãn yêu cầu dự trữ. Dự trữ pháp lý bảo vệ các tài sản của người gửi tiền và cũng cho phép Hệ thống Dự trữ Liên bang điều hành tín dụng ngân hàng dễ dàng hơn, các quỹ mà ngân hàng có sẵn để cho vay, bằng cách kiểm soát tổng cung tiền dự trữ trong hệ thống ngân hàng thông qua chính sách tiền tệ của cục Dự trữ liên bang.

Các dự trữ khoản lỗ tiền vay, tính theo phần trăm của khoản vay hiện tại, được giữ trong một tài khoản riêng biệt nhằm trang trải các khoản lỗ tiền vay dự đoán. Khi khoản vay không được trả lãi trong thời kỳ khá dài thường là 90 ngày, khoản vay không còn được coi là tài sản sinh lãi nữa, và khoản dự trữ được dùng để trang trải khoản lỗ dự kiến. Nếu số tiền vay sau này được xóa như tài sản vô giá trị, thì phải trả phí cho khoản dự trữ lỗ tiền vay.

Dự trữ sơ cấp (Primary Reserves) là số dư tài khoản séc trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang, là tiền mặt dự trữ an toàn cộng với chi phiếu trong quá-trình thu tiền; Dự trữ thứ cấp (SECONDARY RESERVES) hầu hết là các chứng khoán ngắn hạn khả mại; như tín phiếu, kho bạc Mỹ, có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt.

 

2. Phân loại dự trữ ngân hàng

Dự trữ ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Một cách phân loại phổ biến là dựa trên mức độ bắt buộc của dự trữ ngân hàng.Theo cách này, dự trữ ngân hàng được chia thành hai loại chính:

- Dự trữ bắt buộc: Là khoản tiền mặt tối thiểu mà các tổ chức tài chính phải có sẵn dựa theo yêu cầu của ngân hàng trung ương. Dự trữ bắt buộc giúp đảm bảo rằng các tổ chức tài chính có đủ thanh khoản để đáp ứng các nhu cầu rút tiền và thanh toán của khách hàng và các bên liên quan .

- Dự trữ vượt mức: Là tất cả khoản tiền mặt trong kho tiền dự trữ vượt quá mức bắt buộc tối thiểu, khoản tiền này được ngân hàng giữ lại thay vì đem đi cho vay. Dự trữ vượt mức cho phép các tổ chức tài chính có thêm lựa chọn trong việc sử dụng tiền mặt của họ, như cho vay qua đêm cho các tổ chức tài chính khác hoặc mua các tài sản khác . Ngoài ra, dự trữ ngân hàng cũng có thể được phân loại theo loại tiền gửi hoặc kỳ hạn tiền gửi mà dự trữ ngân hàng được tính dựa trên. Ví dụ, dự trữ ngân hàng có thể được phân biệt thành dự trữ ngân hàng bằng đồng Việt Nam và dự trữ ngân hàng bằng ngoại tệ; hoặc dự trữ ngân hàng không kỳ hạn và dự trữ ngân hàng có kỳ hạn.

Các ngân hàng giữ dự trữ vượt mức vì:

- Để đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ thanh khoản để đáp ứng các nhu cầu rút tiền và thanh toán của khách hàng và các bên liên quan, tránh rủi ro về khả năng thanh khoản và khủng hoảng tiền mặt.

- Để tăng uy tín và xếp hạng tín dụng của các ngân hàng trước các nhà đầu tư tiềm năng và các cơ quan đánh giá, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế không chắc chắn. Ngoài ra, ngân hàng có thêm lựa chọn trong việc sử dụng tiền mặt của họ, như cho vay qua đêm cho các ngân hàng khác hoặc mua các tài sản khác có tính thanh khoản cao.

- Để tuân theo chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, ví dụ như khi ngân hàng trung ương trả lãi cho các khoản dự trữ vượt mức hoặc khi ngân hàng trung ương thực hiện các hoạt động mở rộng quy mô tài sản (quantitative easing) để bơm tiền vào nền kinh tế.

Theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tỷ lệ dự trữ bắt buộc ở Việt Nam hiện nay khác nhau tùy theo loại tổ chức tín dụng, loại tiền gửi và kỳ hạn tiền gửi. Theo Quyết định 1158/QĐ-NHNN ngày 29/05/2018, tỷ lệ dự trữ bắt buộc áp dụng cho các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài như sau:

- Quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các loại tiền gửi bằng đồng Việt Nam và tiền gửi bằng ngoại tệ là 0%.

- Ngân hàng chính sách: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng hợp tác xã: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3%, có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 7%, có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 5%.

- Tổ chức tín dụng khác: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 3%, có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 1%; đối với tiền gửi bằng ngoại tệ không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng là 8%, có kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6%.

 

3. Đặc điểm dự trữ ngân hàng

Dự trữ của ngân hàng được đặt ra như một quy định dùng để đảm bảo rằng các tổ chức tài chính lớn có đủ thanh khoản cho các khoản rút tiền và thanh toán lãi suất. Đồng thời, đáp ứng kịp thời những tác động của các điều kiện thị trường. Dự trữ tiền mặt tối thiểu thường được đặt dưới dạng tỷ lệ phần trăm cố định từ số tiền gửi của ngân hàng và có thể được tính bằng tỷ lệ dự trữ. Ví dụ: nếu một tổ chức tài chính giữ 1.000.000 USD tiền gửi và tỷ lệ dự trữ được đặt ở mức 10% thì mức dự trữ tiền mặt tối thiểu mà tổ chức tài chính cần duy trì là 100.000 USD (1.000.000 USD x 10%).

Công thức tính dự trữ ngân hàng

Yêu cầu dự trữ = Tỷ lệ dự trữ x Tổng tiền gửi

Trong một số trường hợp, các tổ chức tài chính không thể tự mình đáp ứng yêu cầu dự trữ thì trong hoàn cảnh đó, họ có thể vay từ các tổ chức tài chính khác có khoản dự trữ vượt mức với lãi suất qua đêm. Tỷ giá qua đêm hay tỷ giá ngân hàng là tỷ giá mà các tổ chức tài chính thường hay vay lẫn nhau. Tỷ giá này gần bằng hoặc bằng với tỷ giá mục tiêu do ngân hàng trung ương ở mỗi quốc gia đặt ra.

Tỷ lệ dự trữ được thiết lập bởi ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia và có thể khác nhau tùy theo quy mô và số lượng tiền gửi của các tổ chức tài chính. Các ngân hàng có tài khoản lớn hơn phải chịu các yêu cầu về tỷ lệ dự trữ cao hơn. Dự trữ ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Dự trữ ngân hàng giúp các tổ chức tài chính đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, thanh toán lãi suất và các khoản nợ, hạn chế rủi ro khủng hoảng tiền mặt và bank run. Dự trữ ngân hàng cũng là công cụ để ngân hàng trung ương điều tiết cung tiền và lãi suất qua đêm trong nền kinh tế

Các ngân hàng thường có ít động cơ duy trì dự trữ vượt mức vì tiền rảnh rỗi không những không tạo ra được lợi nhuận mà họ còn có thể mất tiền do giá trị tiền giảm dần theo thời gian dưới tác động của lạm phát . Do đó, các ngân hàng thường có dự trữ vượt mức của họ không cao và lấy khoản tiền rảnh rỗi cho vay khách hàng để thu lãi. Thông thường, dự trữ ngân hàng sẽ giảm khi nền kinh tế đang trong thời kỳ mở rộng và tăng khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái. Khi nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, các doanh nghiệp và người tiêu dùng vay nhiều hơn và chi tiêu nhiều hơn trong khi vào giai đoạn suy thoái, các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ thắt chặt chi tiêu và vì vậy giảm vay nợ.

Một số lưu ý

- Dự trữ bắt buộc của ngân hàng phải tuân theo công thức được qui định bởi ngân hàng nhà nước, dựa trên số tiền gửi trong tài khoản giao dịch ròng của ngân hàng. Tài khoản giao dịch ròng bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản chuyển khoản tự động và tài khoản hối phiếu cổ phần. Giá trị tài khoản giao dịch ròng được tính bằng tổng số tiền trong tài khoản giao dịch trừ đi các khoản phải trả cho các ngân hàng khác và tiền mặt đang trong quá trình thu hồi.

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc của dự trữ ngân hàng cũng được sử dụng làm công cụ để thực hiện các chính sách tiền tệ. Thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể điều chỉnh số tiền sẵn có trong nền kinh tế, vì vậy gây tác động lên hoạt động cho vay.

- Các ngân hàng có dự trữ ngân hàng vượt mức tối thiểu sẽ được nhận một khoản trả lãi từ ngân hàng trung ương. Dù nó chỉ là một mức lãi suất nhỏ nhưng về cơ bản, nó không chứa bất kỳ rủi ro nào. Ngược lại, số tiền này có thể được các ngân hàng cho vay hoặc đem đi đầu tư để thu được lợi nhuận cao hơn, tuy nhiên đi kèm với nó là rủi ro lớn hơn.

Các bạn có thể tham khảo bài viết sau: Cổ phiếu ưu đãi dự phần (PARTICIPATING PREFERRED STOCK) là gì?

 

4. Một số thuật ngữ kinh tế liên quan đến dự trữ cần biết

4.1 Dự trữ bất thường (CONTINGENT RESERVE) là gì?

Dự trữ bất thường là việc các quỹ được lấy từ thu nhập ròng để chi trả các nhu cầu đột xuất, như lỗ khoản vay không dự phòng, thuế tương lai, và các chi phí tiền lãi.

 

4.2 Dự trữ có độ trễ (LAGGED RESERVES) là gì?

Dự trữ có độ trễ là hệ thống hạch toán Dự trữ theo đó các định chế ký thác duy trì số dư tài khoản dự trữ với Ngân hàng Dự trữ Liên bang, đối với tài khoản séc, và những khoản ký gửi tài khoản giao dịch khác tiến hành hai tuần trước đó. Dự trữ Liên bang sử dụng phương pháp này để tính toán các khoản dự trữ từ cuối thập niên 1960 đến 1984, sau đó chuyển sang hệ thống báo cáo dự trữ đồng thời. Vào tháng Bảy năm 1998, ủy ban Dự trữ Liên bang thay đổi dạng thức báo cáo số dư dự trữ trở về hạch toán dự trữ có độ trễ (lagged), có nghĩa là cải tiến độ chính xác số liệu được các định chế tài chính báo cáo. Các ngân hàng báo cáo số dư khoản dự trữ hàng tuần - một nhóm bao gồm hầu hết ngoại trừ những ngân hàng nhỏ nhất - tính toán yêu cầu dự trữ dựa vào số dư tài khoản 30 ngày trước đó.

 

4.3 Dự trữ đồng thời là gì?

Dự trữ đồng thời (CONTEMPORANEOUS RESERVES) là phương pháp tính toán yêu cầu dự trữ của ngân hàng đối với các tài khoản tiền gửi và tiền mặt trong két dựa trên các số dư hiện hành. Các tài sản và nợ của ngân hàng được dùng để tính yêu cầu dự trữ tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang, được cộng vào ngày thứ Hai và được báo cáo vào ngày thứ Tư cùng tuần đó.

Trên đây là bài chia sẻ của luật Minh Khuê về chủ đề "Dự trữ ngân hàng (BANK RESERVES) là gì ?" Mong rằng bài viết trên của chúng tôi sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc nếu có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 19006162 của chúng tôi để được tư vấn trực tiếp, giải đáp thắc mắc một cách nhanh chóng và kịp thời. Quý khách hàng có yêu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đọc đã quan tâm theo dõi nội dung tư vấn của chúng tôi. Xin trân trọng cảm ơn quý khách.