1. Giới thiệu về Đức Phật
Ngài sinh ra vào thể kỉ 6 TCN, tại Kapilavatthu, là con trai của vị vua cai trị xứ Sakya, một tiểu quốc nằm trên biên giới giữa Ấn Độ và Nepal ngày nay. Tên ngài là Siddhattha, thuộc dòng tộc Gotama. Vào năm 29 tuổi, Ngài từ bỏ cuộc sống vương tử tráng lệ và sự nghiệp vương quyền của mình, và trở thành một người hành khất không nhà, nhằm có thể tìm ra được một lối thoát cho cái mà trước đấy Ngài nhận ra, đó là một thế gian đau khổ. Sau sáu năm ròng tìm kiếm, trải với nhiều thầy dạy tâm linh khác nhau cùng một giai đoạn hành xác vô nghĩa, Ngài cuối cùng cũng chứng đạt được sự Toàn Hảo Giác Ngộ, dưới gốc cây Bồ đề ở Gayā (ngày nay là Bodhigayā). Theo sau đó là bốn mươi lăm năm của sự thuyết giảng và truyền dạy không biết mệt mỏi. Và cuối cùng, vào năm thứ 80 của cuộc đời, viên tịch tại Kusinara "một chúng sinh vô nhiễm, xuất hiện ở đời, vì hạnh phúc và tốt đẹp cho muôn loài".
Đức Phật không phải một vị thần hay một đấng tiên tri hay một hoá thân của thần thánh, mà Ngài là một con người siêu việt, đã, bằng chính nỗ lực của mình, chứng đạt được sự Giải Thoát Tột Cùng và Trí Tuệ Toàn Hảo. Qua đó trở thành "một người thầy vô song của chư thiên và loài người". Ngài là một đấng "cứu thế" chỉ trong cái nghĩa là người chỉ dạy cho nhân loại cách để tự cứu lấy mình, bằng việc thực sự đi theo con đường mà Ngài đã đi qua và chỉ ra. Trong sự hài hoà tột bậc giữa Trí Tuệ và Từ Bi, Đức Phật là hiện thân tiêu biểu cho những giá trị phổ quát và vĩnh hằng của lý tưởng về một con người hoàn mỹ.
2. Giáo pháp của Đức Phật là gì ?
Giáo Pháp là trọn vẹn những lời dạy về con đường Giải Thoát, mà đã được khám phá, chứng đạt và tuyên thuyết bởi Đức Phật. Giáo Pháp được truyền thụ qua ngôn ngữ cổ Pali, và được lưu giữ trong ba bộ sách lớn, được gọi là Tam Tạng (Ba giỏ). Cụ thể là: (I) Luật Tạng, bao gồm những quy tắc và giới luật của người xuất gia; (II) Kinh Tạng, chứa đựng những bài giảng, mẩu đối thoại, mẩu chuyện, thi kệ, vv. bàn tới những lời dạy được tóm tắt trong Bốn Sự Thật Cao Quý (Tứ Diệu Đế). (III) Luận Tạng, hay Vi Diệu Pháp, trình bày những lời giảng trong Kinh Tạng theo một hệ thống chặt chẽ và dưới một hình thức triết học.
Giáo Pháp không phải một giáo điều hay giáo thuyết về sự mạc khải, mà là lời dạy về sự Giác Ngộ dựa trên nhận thức sâu sắc về thực tại. Những lời giảng về bốn sự thật bàn tới những vấn đề cơ bản của cuộc sống và sự giác ngộ đạt được nhờ nỗ lực của bản thân hướng tới sự thanh tịnh và sáng suốt. Giáo Pháp cung cấp một chuẩn mực đạo đức cao thượng, nhưng cũng thực tế, một sự phân tích sâu sắc về cuộc sống, một triết học thâm sâu, một phương pháp huấn luyện tâm trí thiết thực - nói tóm lại, một sự hướng dẫn toàn diện và hoàn hảo về con đường Giải Thoát. Bằng việc trả lời được các đòi hỏi từ trái tim và bộ óc, bằng việc chỉ ra con đường Trung Đạo đưa đến sự vượt thoát khỏi tất cả những cực đoan nguy hiểm và vô ích trong suy nghĩ và hành động. Giáo Pháp đã, đang và sẽ mãi luôn là sự lôi cuốn vượt thời gian đối với bất kỳ trái tim và bộ óc nào đủ trưởng thành để trân trọng những thông điệp mà nó mang tới.
3. Tăng Đoàn đầu tiên của Đức Phật
Tăng Đoàn— nghĩa đen là một hội chúng, một cộng đồng — là tổ chức của các Tỳ-kheo (nghĩa đen là người hành khất), được thành lập bởi Đức Phật và vẫn tồn tại giống như hình thức ban đầu của nó ở các nước Myanmar, Thái Lan, Sri Lanka, Campuchia, Lào. Tăng Đoàn, cùng với Giáo Hội Đạo Jain, là cộng đồng tu sĩ cổ xưa nhất thế giới còn tồn tại đến ngày nay. Và trong số những đệ tử nổi tiếng nhất ở thời của Đức Phật có: Sariputta, chỉ sau thầy mình, sở hữu hiểu biết uyên thâm nhất về Giáo Pháp; Moggalana, người có thần thông đệ nhất; Ananda, người đồng hành và hầu cận trung thành của Đức Phật; Māha Kassapa, là trưởng lão chủ trì hội nghị kết tập Kinh điển diễn ra ngay sau khi Đức Phật viên tịch; Anuruddha, mắt thần đệ nhất và là bậc thầy về chánh niệm; Rahula, con trai ruột của Đức Phật.
Tăng Đoàn cung cấp một khuôn khổ bên ngoài và những điều kiện thuận lợi, không vướng bận bởi những sao lãng đời thường, cho những ai có khát vọng chân thành được cống hiến cả cuộc đời mình cho sự giác ngộ mục tiêu cao cả nhất đó là Giải Thoát. Vậy nên Tăng Đoàn cũng mang một giá trị phổ quát và vượt thời gian ở bất cứ nơi nào khi mà sự phát triển tâm linh đạt đến độ trưởng thành.
4. Quy y tam bảo theo quan niệm Đức Phật
Bởi sự thuần khiết vô song của mình mà Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng Đoàn được gọi là "Tam bảo" (Ba viên ngọc quý), và đối với người Phật tử thì đây là bảo vật quý giá nhất trong thế gian. Ba viên ngọc quý này cũng tạo nên sự nương tựa nơi Tam bảo (Quy y Tam bảo) cho những ai theo đạo Phật. Ở đây bằng lời nói mà một người tuyên xưng, khẳng định, và chấp nhận Phật-Pháp-Tăng là chỗ dựa và là kim chỉ nam cho cuộc đời và mọi suy tư của mình.
Câu từ tiếng Pali cho việc Quy Y Tam Bảo vẫn giữ nguyên giống như ở thời của Đức Phật:
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi
Tôi xin thành kính được quy y Phật Tôi xin thành kính được quy y Pháp Tôi xin thành kính được quy y Tăng
Chỉ bằng việc tụng đọc câu từ trên ba lần mà một người có thể tuyên bố rằng mình là người Phật tử (Với lần thứ hai và ba, đọc thêm từ Dutiyampi, Tatiyampi, 'lần thứ nhì', 'lần thứ ba' ở đầu mỗi câu).
5. Ngũ giới theo quan niệm Đức Phật
Theo sau nghi thức Quy y Tam Bảo thường là sự xin vâng giữ năm giới luật đạo đức (Ngũ Giới). Sự tuân thủ này là chuẩn mực tối thiểu để một người có được nền tảng cho một cuộc sống tử tế và những tiến bộ xa hơn trên con đường Giải Thoát.
1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi xin được vâng giữ điều học là tránh xa sự giết hại các loài sinh vật (Sát sinh).
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi xin được vâng giữ điều học là tránh xa sự lấy của không cho (Trộm cắp).
3. Kāmesu micchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi xin được vâng giữ điều học là tránh xa sự tình dục bất chính (Tà dâm).
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi xin được vâng giữ điều học là tránh xa sự cố ý nói sai sự thật (Nói dối).
5. Surāmeraya-majja-pāmādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.
Tôi xin được vâng giữ điều học là tránh xa sự uống rượu và các chất say.
Nguồn: Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)