1. Dùng rào điện chống trộm mà làm chết người ?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì sẽ bị xét xử về tội giết người. Hành vi phạm tội của ông A ở đây là hành vi sử dụng điện là nguồn nguy hiểm cao độ để phòng chống trộm cắp tài sản, không có cảnh báo an toàn là hành vi nguy hiểm đến tính mạng của người khác. Dù ông A không mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng có ý thức bỏ mặc hậu quả xảy ra nên lỗi của đối tượng trong trường hợp này là lỗi cố ý gián tiếp (Quy định tại Khoản 2 Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015). Do đó hành vi phạm tội đó đã cấu thành tội giết người.
Trách nhiệm hình sự:
Điều 123. Tội giết người Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
... q) Vì động cơ đê hèn.
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Trong trường hợp này, nếu như không thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 1 thì khung hình phạt mà ông A có thể phải chịu là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Bên cạnh việc phải chấp hành hình phạt tù, ông A còn phải bồi thường thiệt hại về dân sự cho bên gia đình người bị hại. Cụ thể như sau:
Trách nhiệm dân sự: Bồi thường thiệt hại
Khoản 1, điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
Đồng thời điều 591 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
Điều 591. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
d) Thiệt hại khác do luật quy định.
Theo căn cứ trên thì ông A phải bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Số tiền bồi thường thiệt hại sẽ dựa trên các căn cứ sau:
- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;
- Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
- Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Thiệt hại khác do luật quy định.
- Và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.
2. Câu trộm cá có thể bị phạt tù không ?
Luật sư tư vấn:
- Thứ nhất là hành vi câu trộm cá sẽ bị phạt bao nhiêu tiền?
Câu trộm cá được coi là một hành vi trộm cắp tài sản của người khác, về vấn đề này, Căn cứ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định cụ thể như sau:
Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản;
- Thứ hai là câu trộm cá có phải chịu trách nhiệm hình sự?
3. Làm sao để lấy lại tiền từ kẻ trộm ?
Trả lời:
Trong trường hợp của bạn, bạn cần đến cơ quan công an Quận (huyện) nơi xảy ra vụ việc mất cắp tiền để công an xác minh, làm rõ dựa trên các thông tin và chứng cứ bạn cung cấp. Hành vi của người bạn đó tùy mức độ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo hai trường hợp sau:
TH1: Xử phạt vi phạm hành chính căn cứ Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính an ninh an toàn xã hội phòng chữa cháy:
"Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác
1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Trộm cắp tài sản;"
TH2: Truy cứu trách nhiệm hình sự
>> Bài viết tham khảo thêm: Vu khống người khác ăn trộm tiền bị xử phạt như thế nào ?
4. Bị trộm tài sản và đòi tiền chuộc ?
>>Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162
Trả lời:
Về hành vi trộm cắp tài sản và đòi tiền chuộc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các quy định sau
Tùy theo số tiền trộm được, người thực hiện hành vi phạm tội sẽ bị khởi tố theo đúng quy định của pháp luật.
Theo đó bạn có thể tố cáo hành vi của người đòi tiền chuộc đến cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa ánđể có thể đưa người này ra pháp luật và đòi lại tài sản của mình
Còn đối với giấy kết hôn bản sao khi xin việc thì tùy thuộc vào yêu cầu của nơi bạn xin việc nếu như họ chấp nhận loại giấy tờ này, còn không bạn có thể xin giấy xác nhận nhân thân hoặc xác nhận cư trú từ cơ quan công an nơi bạn đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú.
5. Bị đổ oan lấy trộm đồ phải chứng minh?
Trả lời:
Do đó, tội trộm cắp tài sản là tội có cấu thành vật chất. Tức là một người bị coi phạm tội trộm cắp tài sản khi đã thực hiện hành vi lén lút và chiếm đoạt được tài sản của người khác. Hơn nữa, tội trộm cắp tài sản bắt buộc người phạm tội phải có mục đích chiếm đoạt tài sản. Mặc dù có hành vi, hậu quả xảy ra nhưng không có mục đích chiếm đoạt thì cũng không cấu thành tội này. Theo những thông tin bạn cung cấp, thì bạn chỉ mang balo vào trong cửa hàng và thử đổ xong bạn không cố ý để balo phía trong phòng thử đồ, một lúc sau bạn mới nhận thấy mình quên ba- lô. Bạn không có mục đích từ đầu vào lấy trộm đồ và hoàn toàn tỏ thiện chí muốn mua chiếc váy mặc dù bà chủ cửa hàng đã dùng mọi cách ép bạn mua nó. Điều quan trong là giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng, chỉ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Về hành vi đe dọa, tố cáo bạn trong trường hợp này với cơ quan công an nhưng phía chủ cửa hàng chỉ cung cấp chứng cứ là chiếc váy nằm trong ba lô của bạn, điều này chưa đủ căn cứ chứng minh về hành vi của bạn là lén lút chiếm đoạt tài sản một cách có chủ ý.
Theo đó, căn cứ tại điều 156 Bộ luật hình sự quy định về tội vu khống như sau :
Đối với cả hai trường hợp trên, nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …
- Bịa đặt người khác là phạm tội và tố cáo họ trước các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một dạng đặc biệt của hành vi vu khống. Đối với dạng hành vi này, tính nguy hiểm cho xã hội của tội vu khống phụ thuộc nhiều vào loại tội bị vu khống. Bộ luật Hình sự quy định vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là cấu thành tăng nặng với mức hình phạt từ một năm đến bảy năm tù.
Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì bà chủ cửa hàng không đưa ra được chứng cứ bạn là người trực tiếp và có mục đích lấy trộm đồ mà có chủ ý lôi chiếc ba lô và bắt bạn ở đó khi bạn của bạn trong quá trình về lấy tiền trả. Việc bắt bạn bồi thường với số tiền 600 nghìn đồng và đe dọa đưa bạn lên công an tố cáo là không đúng, bạn có thể đề nghị cơ quan công an xác minh và làm rõ hành vi cố ý xâm phạm tài sản của bạn khi chưa được cho phép, trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ, tài liệu chứng minh chỉ được coi là hợp pháp nếu được thu thập đúng trình tự, thủ tục luật định.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê