1. Giới thiệu
Trong một bài luận văn lý thú xuất bản năm 1971 (“The Theory of Economic Regulation”), George Stigler bổ sung lý thuyết “lũng đoạn” điều tiết trên cơ sở động cơ tư lợi của người có nhu cầu và nhà cung cấp. Quan điểm này, phải được nhấn mạnh, về bề ngoài có vẻ giống như khái niệm của Marx cho rằng “vốn” sử dụng công cụ của nhà nước và chính trị để lũng đoạn lợi ích. Trong lý thuyết về vốn hay “kinh doanh” hiện đại không phải lúc nào cũng chiếm ưu thế. Nhiều nhóm khác nhau, như người lao động, nông dân hay người tiêu dùng có thể hình thành hay đảm nhận hệ thống điều tiết ở các thời điểm khác nhau. Theo quan điểm của Stigler điều tiết làm lợi cho các nhóm có ảnh hưởng chính trị. Chúng ta hãy xét quan điểm của ông chi tiết hơn.
2. Lý thuyết lũng đoạn
Ai là người hưởng lợi và ai là người chịu thiệt khi điều tiết? Doanh nghiệp điều tiết hưởng lợi từ quá trình bằng trợ cấp tiền bạc trực tiếp, kiểm soát thâm nhập, cố định giá, hay kiểm soát những phần thay thế hay bổ sung. Điều tiết hầu như không bao giờ là hạnh phúc hoàn toàn. Các ngành công nghiệp bị điều tiết (đường sắt, điện phục vụ công ích, v.v...) hay nghề nghiệp (thợ cắt tóc, giám đốc công ty mai táng, nhà thầu địa phương, v.v...) phải tuân thủ một số nguyên tắc, quy định, “tiêu chuẩn” hạnh kiểm hay những đối lập khác. Những vấn đề này đều tốn kém và giảm bớt thu nhập ròng ở các doanh nghiệp điều tiết, nhưng với điều kiện lợi nhuận ròng là dương và phí tổn vận động hành lang không ngăn cản, những ai đang giữ vững lợi tức từ quá trình điều tiết sẽ yêu cầu.
Tại sao nhà chính trị - người điều tiết cung cấp điều tiết? Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ tự lo liệu công việc ra sao khi yêu cầu điều tiết trong một hệ thống nơi mà hối lộ là phi pháp? Các liên minh hiệu quả về chính trị (như điều dưỡng, thợ mộc, v.v...) cũng làm thế với cử tri và các nguồn lợi khác chẳng hạn giúp đỡ tiền bạc hay “vận động đóng góp”. Một vấn đề cơ bản hơn nhiều, điều tiết thông qua như thế nào để ít gây thiệt hại cho nhiều người (khách hàng) nhưng mang nhiều lợi ích cho một vài người (công nghiệp)? Một số đặc tính của quạ trình chính trị dân chủ khiến cho khả năng này có thể. Stigler nhận xét (1) quyết định chính trị phải được thực hiện cùng lúc, không như quyết định thị trường và (2) một quá trình dân chủ (thông qua đại biểu) phải gồm tất cả đảng phái cùng lúc - những đảng phái rất quan tâm đến quyết định, những đảng phái có phần nào quan tâm và những đảng phái không hề quan tâm (“Theory of Economic Regulation”, trang 10-11). Trong những tình huống này, thiệt hại nhiều hơn đối với đa số (“sự mất khống” phân tích ở trên) không thể tìm thấy cách diễn đạt chống lại những lợi ích nhỏ hơn của đa số. Thu thập thông tin là hàng hóa với phí tổn và lợi ích. Một cá nhân không có động cơ thu thập thông tin đáng giá về những vấn đề không liên quan đến mình, nhưng cá nhân bỏ phiếu về những vấn đề này bằng cách này hay cách khác, thường thông qua một đại biểu toàn thời gian trực thuộc một đảng phái chính trị. Như Stigler lập luận:
“Đại biểu và đảng phái được thưởng vì sự khám phá và thực hiện nguyện vọng chính trị của cử tri bằng sự thành công trong bầu cử và điều kiện tiên quyết của nhiệm vụ. Nếu đại biểu tin chắc sự bầu lại bất cứ khi nào anh ta bỏ phiếu phản đối một chính sách kinh tế làm tổn hại đến xã hội, thì chắc hẳn ông cũng nên làm thế. Thật không may đức hạnh không phải lúc nào cũng khống chế giá cả cao như thế. Nếu đại biểu phủ nhận 10 ngành công nghiệp lớn thì trợ cấp tiền bạc đặc biệt của họ hay khả năng chính phủ, thì họ sẽ tham gia vào cuộc bầu cử một người kế vị ân cần hơn: tiền thưởng là điều quan trọng. Điều này không có nghĩa là đại biểu và đảng phái tìm sự liên minh quyền lợi của cử tri lâu bền hơn mặt chống công nghiệp trong mỗi đề xuất chính sách công nghiệp. Một đại biểu không thể đắc cử hay giữ chức với sự hỗ trợ từ số tiền của những người phản đối: quota nhập khẩu dầu, trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp phi trường, trợ cấp bệnh viện, xưởng đóng tàu hải quân không cần thiết, chương trình nhà ở công không công bằng, và trợ cấp điện khí hóa nông thôn”. (Theory of Economic Regulation, trang II).
Chính trị học và quá trình bỏ phiếu vì thế là bộ phận lọc khổng lồ sự lựa chọn cá nhân. Điều tiết mọi loại đơn thuần là kết quả của sự tương tác của những người có nhu cầu tư lợi, nghĩa là liên minh hiệu quả của cá nhân đang giữ lợi tức qua điều tiết và những người cung cấp chính trị, những người chịu đựng kiềm chế bầu lại theo định kỳ.
Điều này có nghĩa “công ích” sau cùng có xảy ra trong quá trình này hay không? Trong tiếp cận điều tiết đương đại, thuật ngữ “công ích” mang ý nghĩa khác. Tư lợi không phải một loại chỏ nghĩa hợp pháp trừu tượng, đúng ra, đơn thuần là tổng quyền lợi cá nhân về một số vấn đề. Nếu phí tổn giao dịch giữa những người tiêu dùng là 0, thì chắc chắn họ sẽ mua đứt các nhà độc quyền. Nói cách khác, đối với một số lượng PPmAF, người tiêu dùng có thể mua đứt nhà độc quyền và đạt tới tam giác AFG, mất khống. Nhưng một thế giới không hoàn toàn nơi phí tổn liên minh dương và nơi nhà nước được quyền ép buộc (trong thể chế dân chủ), các độc quyền hình thành bằng điều tiết có thể giảm phúc lợi của người tiêu dùng.
Điều quan trọng phải thừa nhận là điều tiết không phải lúc nào cũng hỗ trợ quyền lợi đặc biệt của các nhóm thị trường công nghiệp. Người tiêu dùng hay các nhóm môi trường cũng hình thành liên minh hiệu quả nhằm tác động đến quá trình chính trị. Sự lựa chọn các nhóm phi thị trường có thể đăng ký, các nhóm khác nhau sẽ lũng đoạn quá trình ở những thời điểm khác nhau. Nhận dạng cấu hình cụ thể của phí tổn và lợi ích đang đối mặt với người có nhu cầu và nhà chính trị - người cung cấp điều tiết là một nhiệm vụ đang phát triển liên tục thu hút giới kinh tế gia đương đại trong lĩnh vực này. Một trong những vấn đề chính là phát triển một lý thuyết ra quyết định chính trị duy nhất chắc chắn trong nội bộ chế độ quan liêu. Điểm quan trọng là phát triển phác họa lý thuyết kinh tế tích cực của quá trình điều tiết thừa nhận các nhà chính trị tư lợi, nội sinh.
3. Đầu đời và giáo dục - George Stigler
Stigler sinh ra ở Seattle, Washington, là con trai của Elsie Elizabeth (Hungler) và Joseph Stigler. Anh ấy là người gốc Đức và nói tiếng Đức thời thơ ấu. Ông tốt nghiệp Đại học Washington năm 1931 với bằng Cử nhân và sau đó dành một năm tại Đại học Northwestern, từ đó lấy bằng Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh năm 1932. Chính trong quá trình học tập tại Northwestern, Stigler bắt đầu quan tâm đến kinh tế học và quyết định chọn một việc học tập.
4. Sự nghiệp của George Stigler
Sau khi nhận được học bổng học phí từ Đại học Chicago, Stigler đăng ký vào đó vào năm 1933 để nghiên cứu kinh tế và tiếp tục lấy bằng Tiến sĩ về kinh tế ở đó vào năm 1938. Ông giảng dạy tại Iowa State College từ năm 1936 đến năm 1938. Ông đã dành phần lớn thời gian của Thế chiến II tại Đại học Columbia, thực hiện nghiên cứu toán học và thống kê cho Dự án Manhattan. Sau đó, ông đã dành một năm tại Đại học Brown. Ông phục vụ tại khoa Columbia từ năm 1947 đến năm 1958.
Tại Chicago, ông bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tư tưởng của Frank Knight, người giám sát luận án của ông. Milton Friedman, một người bạn hơn 60 năm, nhận xét rằng điều đáng chú ý là Stigler đã vượt qua luận án của mình dưới thời Knight, vì chỉ có ba hoặc bốn sinh viên đã từng làm được như vậy trong 28 năm của Knight tại Chicago. Những ảnh hưởng của Stigler bao gồm Jacob Viner và Henry Simons cũng như các sinh viên W. Allen Wallis và Friedman.
Stigler được biết đến nhiều nhất với việc phát triển Lý thuyết Kinh tế về Quy định (Economic Theory of Regulation), theo đó các nhóm lợi ích và những người tham gia chính trị khác sẽ sử dụng quyền quản lý và cưỡng chế của chính phủ để hình thành luật và quy định theo cách có lợi cho họ. Lý thuyết này là một thành phần của lĩnh vực kinh tế lựa chọn công cộng nhưng cũng bị phản đối sâu sắc bởi các học giả về lựa chọn công cộng thuộc "Trường phái Virginia", chẳng hạn như Charles Rowley. Ông cũng thực hiện nhiều nghiên cứu sâu rộng về lịch sử tư tưởng kinh tế.
5. Sự đóng góp của George Stigler
Đóng góp quan trọng nhất của Stigler đối với kinh tế học đã được xuất bản trong bài báo mang tính bước ngoặt của ông, "Kinh tế học thông tin". Theo Friedman, Stigler "về cơ bản đã tạo ra một lĩnh vực nghiên cứu mới cho các nhà kinh tế." Stigler nhấn mạnh tầm quan trọng của thông tin: "Người ta không cần phải nói với các học giả rằng thông tin là một nguồn tài nguyên quý giá: tri thức là sức mạnh. Tuy nhiên, nó lại chiếm một khu ổ chuột ở thị trấn kinh tế."
Bài báo năm 1962 của ông "Thông tin trên thị trường lao động" ( "Information in the Labor Market") đã phát triển lý thuyết về thất nghiệp tìm kiếm. Năm 1963, ông được bầu làm Ủy viên của Hiệp hội Thống kê Hoa Kỳ.
Ông được biết đến với khiếu hài hước sắc bén và ông đã viết một số bài luận giả mạo. Chẳng hạn, trong cuốn sách Người trí thức và thị trường, ông đã đề xuất Quy luật co giãn của cầu và cung của Stigler : "tất cả các đường cầu đều không co giãn và tất cả các đường cung cũng không co giãn." Bài tiểu luận đã tham khảo các nghiên cứu cho thấy nhiều hàng hóa và dịch vụ không co giãn trong thời gian dài và đưa ra một bằng chứng lý thuyết được cho là; ông kết thúc bằng cách thông báo rằng bài luận tiếp theo của ông sẽ chứng minh rằng hệ thống giá cả không tồn tại.
Một bài luận khác, "Một phác thảo về sự thật trong giảng dạy," mô tả hậu quả của một loạt các quyết định (hư cấu) của tòa án buộc các trường đại học phải chịu trách nhiệm pháp lý về hậu quả của những sai sót trong giảng dạy. Các chế độ ăn uống Stigler cũng được đặt theo tên ông.
Stigler đã viết nhiều bài báo về lịch sử kinh tế học, được đăng trên các tạp chí hàng đầu và tái bản 14 trong số đó vào năm 1965. Tạp chí Kinh tế Mỹ cho biết, "nhiều bài luận trong số này đã trở thành những dấu mốc nổi tiếng đến nỗi không học giả nào trong lĩnh vực này phải xa lạ. với họ ... Văn xuôi sáng suốt, logic thâm nhập, và hài hước dí dỏm ... đã trở thành thương hiệu của tác giả. "
Stigler là thành viên sáng lập của Hiệp hội Mont Pelerin và là chủ tịch của nó từ năm 1976 đến năm 1978. Ông là một người theo chủ nghĩa tự do theo chủ nghĩa tự do / cổ điển.
Ông nhận được Huân chương Khoa học Quốc gia năm 1987.
LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)