1. Ký hợp đồng

Lý thuyết hiệu dụng do các tác giả như Jules Dupuit và W. S. Jevons nghĩ ra cung cấp nền tảng cho khái niệm lý thuyết giải thích đặc điểm chính của nền kinh tế trao đổi: ký hợp đồng. Lý thuyết ký hợp đồng nằm ở tâm điểm của nền kinh tế tự thân nó không phải là công cụ toán học, nhưng nó trở thành một đối tượng mà các công cụ tinh vi nhất của kinh tế học hiện đại phải áp dụng.

Francis Ysidro Edgeworth, vốn là người cùng thời với Alfred Marshall, sử dụng nguyên tắc hiệu dụng và lý thuyết hiệu dụng (toán học) để phát triển khái niệm ký hợp đồng. Biểu đồ khung Edgeworth là mô tả đơn giản hóa quan điểm chính của Edgeworth, mặc dù ông không phải là nhà phát minh duy nhất miêu tả “khung” mà người ta thường nghĩ ông là tác giả. Trọng tâm đóng góp của Edgeworth là khái niệm hàm lựa chọn cá nhân của ông hay “đường cong trung lập”. Làm nền tảng cho hàm lựa chọn là tính toán của cá nhân về số lượng và loại kinh doanh sẽ tối đa hóa hiệu dụng của mình.

Trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn bất cứ cá nhân nào cũng có thể tự do ký tiếp hợp đồng với bất kỳ người nào khác trong thị trường gồm nhiều cá nhân. Edgeworth cho rằng:

“Một cá nhân bất kỳ được tự do ký hợp đồng (cùng lúc) với một số lượng vô hạn nghĩa là một cá nhân X (và cùng lúc là cá nhân Y) có thể giao dịch với một số lượng bất kỳ của Y” (Mathematical Psychics, trang 18).

Ký tiếp hợp đồng không đòi hỏi phải có sự đồng ý của các bên thứ ba, sao cho bất cứ cá nhân nào cũng tự do ký hợp đồng với cá nhân khác không lệ thuộc bên thứ ba.

 

2. Hàng hóa cơ bản

Những nguyên tắc cơ bản này và các nguyên tắc khác chuyển thành khái niệm quan trọng của hàng hóa cơ bản trong nền kinh tế trao đổi. Trong Hình 22-4 các hàm lựa chọn hay đường cong trung lập của hai người tham gia hợp đồng, X và Y, được thể hiện như Uxo, UX1..., u^, và UY0, UY1,..., Uyn tương ứng. Điểm gốc của cá nhân X bắt đầu ở góc tây nam của khung, trong khi điểm gốc của cá nhân Y nằm ở góc đông bắc. Cá nhân X và Y đang đánh giá số lượng thay thế hai loại hay kiện hàng A và B. Dọc theo hàm lựa chọn đã cho, nghĩa là Uxo hay UY0, mỗi cá nhân đều khác nhau giữa những số lượng thay thế A và B. Mức hiệu dụng dọc theo bất kỳ đường cong trung lập luôn không đổi, nghĩa là nhiều A thay thế cho ít B hay ngược lại. Những đường cong này lồi so với các điểm gốc Ox và Oy vì tỉ lệ biên tế thay thế giảm dần. (Tỉ lệ biên tế thay thế giảm dần ngụ ý số lượng hàng hóa A mà một người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ để thu được nhiều sự giảm giá hàng hóa B hơn khi anh ta tích lũy nhiều B hơn và ngược lại). Đường cong trung lập với ký hiệu đánh số cao hơn biểu thị mức hiệu dụng của các cá nhân X và Y sẽ gia tăng khi họ nắm giữ số lượng của một trong hai loại hàng hóa A hay B. Nếu số lượng hàng hóa có thể chia hết vô hạn, như Edgeworth giả định, có thể vẽ ra đường cong trung lập hay hàm lựa chọn giữa hai đường cong trung lập bất kỳ.

Trong Hình 22-4 cung cấp tổng số lượng A và B có thể dùng được (và hình thành chiều chính xác của khung). Hàng hóa hay kiện hàng phân phối ngẫu nhiên sao cho việc nghiên cứu sản xuất được loại trừ khỏi nền kinh tế trao đổi đơn nhất mô tả trong Hình 22-4. Trong giai đoạn phân tích kế tiếp, cứ cho rằng các cá nhân X và Y mỗi người đều nhận phần trao tặng của A và B, đặt chúng ở điểm G trong Hình 22-4. Cá nhân X đang nắm giữ số lượng a0 hàng hóa A và b0 hàng hóa B, trong khi Y nắm giữ số lượng hàng hóa A và bj hàng hóa B. ở điểm G, cá nhân X nằm ở mức thỏa mãn gọi là hàm lựa chọn UX1 còn Y ở mức thỏa mãn UY1. Lưu ý các đường cong trung lập giao nhau ở điểm G.

Vấn đề tới hạn do Edgeworth nêu ra là liệu X và/hoặc Y có thể đạt đến các mức thỏa mãn cao hơn (mức thụ hưởng ở điểm ơ) thông qua ký hợp đồng tự nguyên hay không. Mô thức cho chúng ta biết tất cả hợp đồng để trao đổi A lấy B trong không gian GFH sẽ cải thiện hiệu dụng thỏa mãn của một trong hai hay cả X lẫn Y. A trao đổi lấy B để lấy A giữa X và Y sẽ di chuyển cả hai cá nhân từ điểm G đến điểm F rõ ràng cải thiện sự thỏa mãn của Y nhưng không làm giảm sự thỏa mãn của X. Y di chuyển đến hàm lựa chọn UY2 đang là sự gia tăng tính hiệu dụng của anh ta, trong khi X vẫn giữ nguyên ở mức hiệu dụng UX1, nhưng không có thay đổi mức thỏa mãn của anh ta. A di chuyển từ điểm G đến điểm H, ngược lại cải thiện sự thỏa mãn của X nhưng không làm giảm sự thỏa mãn của Y. Đương nhiên, sự trao đổi từ G trong những đường biên này (vùng có gạch song song) sẽ làm lợi cho cả hai thương gia. Sự trao đổi trong những đường biên này được cho là nằm trong hàng hóa cơ bản của nền kinh tế.

Đường cong gọi là cc trong Hình 22-4 được gọi là đường cong hợp đồng, nối liền mọi điểm tiếp tuyến giữa các hàm lựa chọn X và Y. Một khi các bên tham gia hợp đồng đạt đến đường cong cc thì bất kỳ sự cải thiện trong mức hiệu dụng của một trong hai đối tác đồng nghĩa với sự giảm bớt mức độ hiệu dụng của đối tác kia. Edgeworth mô tả đường này như một đường:

“Cùng với nó tác động thích thú của những người ký hợp đồng đều đối kháng lẫn nhau” (Mathematical Psychics, trang 29).

Theo hình dạng trong Hình 22-4, sự di chuyển từ điểm G đến điểm E có nghĩa là cải thiện số phận của cả hai thương gia, nhưng một khi đạt đến điểm E, thì việc trao đổi thêm nữa sẽ cải thiện hiệu dụng của một đối tác chỉ bằng cái giá phải trả của đối tác kia.

 

3. Ký hợp đồng ở hàng hóa cơ bản không nhất thiết dẫn đến sự cân bằng cạnh tranh độc đáo trong trao đổi

Edgeworth thừa nhận lý thuyết trao đổi hàng hóa cơ bản là tâm điểm của lý thuyết kinh tế. Ông cũng biết rằng việc ký hợp đồng ở hàng hóa cơ bản không nhất thiết dẫn đến sự cân bằng cạnh tranh độc đáo trong trao đổi (Mathematical Psychics, trang 47-48). Đúng ra, quan điểm ban đầu khác nhau và kiềm chế khác nhau tạo ra giải pháp khác nhau. Khi sự phức tạp trong trao đổi mua bán chẳng hạn như thông tin không đầy đủ giữa các thương gia hay sự có mặt của những người mặc cả bên thứ ba, thì giải pháp trở thành mơ hồ. Một số công cụ phức tạp và tinh vi nhất của toán học được áp dụng cho các vấn đề này. Công cụ như lý thuyết trò chơi, lý thuyết trọn bộ, lý thuyết đánh giá, phát huy định lý điểm cố định và những hình thức khác của toán cao cấp, tất cả đều sử dụng để phân tích vấn đề do lý thuyết hàng hóa cơ bản của Edgeworth nêu ra. Thật ra, một số người đoạt giải Nobel, trong đó có Kenneth J. Arrow năm 1972 và Gerard Debreu năm 1983, được tặng thưởng do đóng góp vào vấn đề này.

Khi các công cụ toán học dù cũ hay mới đều ảnh hưởng đến chiều hướng lý thuyết kinh tế kỹ thuật trong giai đoạn hiện dại, vì thế toán học và thống kê học hình thành một đấu trường mới trong điều nghiên kinh tế đương đại. Mục đích điều nghiên không gì khác hơn là làm cho kinh tế học trở thành “môn khoa học”, tương tự như các môn khoa học tự nhiên. Điều này xui khiến ngày càng nhiều nhà kinh tế học hơn nữa ganh đua các kỹ thuật thành công của các môn khoa học tự nhiên. Nói cách khác, ngày càng xem trọng việc ‘kiểm nghiệm” tính giá trị của các giả thiết kinh tế.

 

4. Vài nét về Francis Ysidro Edgeworth

Francis Ysidro Edgeworth là một nhà triết học và kinh tế chính trị người Anh-Ireland , người đã đóng góp đáng kể vào phương pháp thống kê trong những năm 1880. Từ năm 1891 trở đi, ông được bổ nhiệm làm biên tập viên sáng lập của Tạp chí Kinh tế.

Edgeworth sinh ra ở Edgeworthstown, County Longford, Ireland. Anh ta không đi học, nhưng được các gia sư tư nhân tại điền trang Edgeworthstown dạy dỗ cho đến khi đủ tuổi vào đại học. Cha của anh, Francis Beaufort Edgeworth, là hậu duệ của người Pháp Huguenots và "là một sinh viên triết học không ngừng nghỉ tại Cambridge trên đường đến Đức khi anh quyết định bỏ trốn với một người tị nạn Tây Ban Nha tuổi teen Rosa Florentina Eroles mà anh gặp trên bậc thang của Bảo tàng Anh . Một trong số các kết cục của cuộc hôn nhân của họ là Ysidro Francis Edgeworth (thứ tự tên đã được đảo ngược sau đó) .... " Richard Lovell Edgeworth là ông nội của anh, và nhà văn, Maria Edgeworth, là dì của anh.

Khi còn là sinh viên tại Trinity College Dublin, ông học các tác phẩm kinh điển để nhận học bổng năm 1863 và tốt nghiệp năm 1865, và tại Balliol College, Oxford, Edgeworth nghiên cứu ngôn ngữ cổ và hiện đại. Một phàm ăn tự học, ông học toán học và kinh tế học chỉ sau khi ông đã hoàn thành đại học. Ông đủ điều kiện trở thành luật sư ở London vào năm 1877 nhưng không hành nghề.

 

5. Sự nghiệp

Trên cơ sở các xuất bản của ông về kinh tế học và thống kê toán học trong những năm 1880, Edgeworth được bổ nhiệm vào một ghế chủ tịch kinh tế tại King's College London vào năm 1888, và vào năm 1891, ông được bổ nhiệm làm Giáo sư Kinh tế Chính trị Drummond tại Đại học Oxford. Năm 1891, ông cũng được bổ nhiệm làm biên tập viên sáng lập của Tạp chí Kinh tế. Ông tiếp tục làm biên tập viên hoặc tổng biên tập cho đến khi qua đời 35 năm sau đó.

Edgeworth là một nhân vật có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của kinh tế học tân cổ điển. Ông là người đầu tiên áp dụng một số kỹ thuật toán học chính thức vào việc ra quyết định cá nhân trong kinh tế học. Ông đã phát triển lý thuyết tiện ích, giới thiệu đường bàng quan và hộp Edgeworth nổi tiếng, hiện đã trở nên quen thuộc với sinh viên đại học kinh tế vi mô. Ông cũng được biết đến với phỏng đoán Edgeworth, trong đó nói rằng cốt lõi của một nền kinh tế thu hẹp lại tập hợp các tiêu chí cân bằng cạnh tranh là số lượng tác nhân trong nền kinh tế lớn hơn. Trong số liệu thống kê, Edgeworth được nhớ đến nhiều nhất khi có tên trong loạt phim Edgeworth.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)