Hiện nay, chúng ta không còn xa lạ gì việc nhiều người giả danh cán bộ cơ quan nhà nước, công an, bộ đội,.... để thực hiện hành vi lừa đảo người khác. Vậy người, nhóm người đó sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định của pháp luật?.
Bộ Công an cũng đã cảnh báo thủ đoạn giả danh cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan Nhà nước. Thông thường, những đối tượng này có những cách thức lừa đảo tương đối giống nhau: sử dụng công nghệ cao, ẩn danh dưới số điện thoại giống hệt số điện thoại công khai của cơ quan Nhà nước,...
1. Mức xử phạt vi phạm hành chính đối với người giả danh quân nhân để thực hiện hành vi lừa đảo
Căn cứ điểm c khoản 1 khoản 3 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, xử phạt về hành vi gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác như sau:
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: (1)Trộm cắp tài sản, xâm nhập vào khu vực nhà ở, kho bãi hoặc địa điểm khác thuộc quản lý của người khác nhằm mục đích trộm cắp, chiếm đoạt tài sản; (2) Công nhiên chiếm đoạt tài sản; (3) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản hoặc đến thời điểm trả lại tài sản do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; (4) Không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản; (5) Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp...
- Ngoài hình phạt chính là phạt tiền thì có một số hình thức xử phạt bổ sung sau: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính hay trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính.
Do đó, người giả danh quân nhân để thực hiện hành vi lừa đảo sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Đồng thời, người thực hiện hành vi phạm còn bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vi phạm. Trường hợp người vi phạm là người nước ngoài thì ngoài phạt mức phạt trên thì còn bị trục xuất.
2. Truy cứu trách nhiệm hình sự người giả danh quân nhân để thực hiện hành vi lừa đảo
Người giả danh quân nhân để thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản thì người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cụ thể, tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bởi điểm a khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Thứ nhất, mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
- Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
Người giả danh quân nhân đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho họ bằng những cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động …
Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản,...
- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên. Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.
Thứ hai, khách thể. Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Thứ ba, mặt chủ quan tội lừa đảo. Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Thứ tư, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác
Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
+ Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản... về tội phạm rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng.
+ Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Người thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác. Người đó từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
Như vậy, người giả danh quân nhân để thực hiện hành vi lừa đảo có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở xuống nhưng thuộc một trong những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Lưu ý rằng, việc người giả danh quân nhân còn có thể bị truy cứu về Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác (Điều 339 Bộ luật Hình sự năm 2015).
Theo Điều 339 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác như sau: Người nào giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác thực hiện hành vi trái pháp luật nhưng không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Vấn đề xử phạt hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, mức độ vi phạm,...
Trên đây là toàn bộ nội dung về "Giả danh quân nhân đi thực hiện hành vi lừa đảo bị xử lý như thế nào?" để bạn đọc tham khảo. Nếu các bạn còn có những câu hỏi thắc mắc khác có liên quan thì có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại tổng đài 19006162 hoặc là gửi yêu cầu về địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ chi tiết hơn.