1. Tư vấn khởi kiện hành vi lừa đảo xin việc ?

Thưa luật sư!

Tháng 10/2018 Gia đình tôi có một người quen tên A (Ông A làm bên bộ công an – đã nghỉ hưu) đến nhà tôi giới thiệu mình có người quen làm lãnh đạo bên ngành Hàng không và bên đó đang có nhu cầu tuyển nhân sự các vị trí.
Gia đình tôi có nhờ ông A giúp xin việc ở đó với mức kinh phí 250 triệu như yêu cầu. Ngày 15/10/2018 ông A yêu cầu nộp trước số tiền xin việc 50% (125.000.000đ) khi nào có quyết định thì nộp nốt số còn lại. Vì gia đình tin tưởng tuyệt đối nên cũng chỉ nói ông A viết tay số tiền đã nhận theo hình thức mượn 1 tháng (không ghi lãi suất). Ngày qua ngày tôi vẫn không nhận được quyết định. Đến tháng 5/2019 Ông A cho tôi gặp một người tên B và nói ông B đang lo công việc cho tôi. Trong quá trình tiếp xúc tôi mới phát hiện ra qua ông B còn rất nhiều người, ông A, B cũng chỉ là trung gian trong đường dây xin việc. Đến tháng 6 năm 2019 ông B thông báo cho tôi vì bên ngành hàng không muốn xin được phải có thêm một cái chứng chỉ nghiệp vụ hàng không.
Tháng 11 tôi học xong Ông B nói với tôi yêu cầu tôi nộp nốt số tiền 75.000.000đ để lo việc cho thuận tiện. Vì ông A là người nhận xin việc trực tiếp nên số tiền 75.000.000đ này tôi mang trực tiếp đến nhà ông A. Tổng số tiền hai lần giao cho ông A là 200.000.000đ. Vì hôm đó nhà ông A có việc nên ông A viết giấy biên nhận nhận tiền của tôi và nhờ tôi chuyển cho ông B. Lần này ông A viết giấy có nội dung cụ thể: Số tiền, ngày tháng và nói rõ ông B có trách nhiệm lo công việc vào đúng vị trí bên ngành hàng không trong năm 2015 nếu không ông B phải hoàn trả lại tiền gốc và lãi cho tôi. Tôi mang tiền cho ông B và ông B ký nhận và cam kết thực hiện đúng yêu cầu ông A đưa ra. Đến hết năm 2019 tôi đợi mãi vẫn chưa thấy kết quả và đã tìm hiểu có thể khẳng định ông B không có khả năng giúp xin việc, có dấu hiệu lừa đảo nên tôi đã đòi lại tiền.
Nhưng họ cứ khất lần, vòng vo. Tôi và gia đình quyết định kiện. Kính nhờ luật sư tư vấn cho tôi thủ tục kiện như thế nào? Ông A kiện bị tội gì, ông B kiện bị tội gì?

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, giữa gia đình bạn và người giúp xin việc đã giấy cam kết nhận tiền giúp xin việc, người kia đã nhận số tiền là 200.000.000 đồng, có thể thấy người này đã nhận tiền của bạn và hứa chạy việc cho bạn. Tuy nhiên, sau một thời gian người đó vẫn chưa thực hiện cam kết. Bạn muốn đòi tiền và khởi kiện hành vi của những người này. Tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế, mà hành vi đó mà có thể xác định là hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc chỉ là hành vi vi pháp luật dân sự (vi phạm hợp đồng dân sự).

Thứ nhất, bạn có thể chuẩn bị hồ sơ khởi kiện về trách nhiệm dân sự: khi bạn giao tiền, vì tin tưởng nên chỉ có giấy viết tay theo hình thức mượn tiền do ông A viết và có giấy biên nhận của ông B. Do đó, bạn có thể khởi kiện ra tòa yêu cầu ông A và ông B thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Trách nhiệm của bạn là chứng minh và cung cấp các tài liệu, chứng cứ. Tòa cũng sẽ tiến hành xác minh những thông tin bạn cung cấp để giải quyết trong trường hợp có đầy đủ căn cứ.

- Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự, hồ sơ bao gồm:

+ Đơn khởi kiện(Theo mẫu )

+ Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện

+ Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

+ Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Thứ hai, Trường hợp ông A và ông B là người không có khả năng xin được việc nhưng đã có những hành vi, thủ đoạn gian dối để cho bạn lầm tưởng rằng ông B có khả năng xin được việc để bạn tin tưởng giao tiền cho thì hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bô sung năm 2017)

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

.....

Nếu trước khi nhận tiền, ông A và ông B không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn, ông B không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó hoặc có dấu hiệu bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản bạn có thể làm đơn tố cáo gửi ra công an khu vực. Hành vi này có thể bị khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, trường hợp bạn có đầy đủ chứng cứ bạn có thể làm đơn khởi kiện hoặc tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền về hành vi của ông A và ông B.

2. Tố cáo công ty bán hàng qua truyền hình lừa đảo khách hàng ?

Thưa Luật sư, Tôi xin được tố cáo công ty bán hàng qua truyền hình chuyên lừa khách hàng. Xin luật sư giúp? Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Để xác định một hành vi có cấu thành tội phạm hay không thì cần phải có sự điều tra, xem xét và kết luận của cơ quan nhà nước. Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lừa đảo chiềm đoạt tài sản như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

....

Nếu nhận thấy công ty bạn muốn tố cáo có dấu hiệu vi phạm những quy định nêu trên, bạn có thể làm đơn tố cáo theo quy định tại Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Như vậy bạn có thể đến cơ quan công an, viện kiểm sát nơi có trụ sở của công ty này, trong trường hợp bạn không biết địa chỉ của công ty thì bạn có thể tố cáo tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi bạn cư trú để tiến hành xem xét giải quyết. Mẫu đơn tố cáo bạn có thẻ tham khảo tại đây.

3. Lệnh truy nã tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hết hiệu lực không ?

Thưa Luật sư, vào năm 1995 mẹ em có giữ hộ 3 người bạn số tiền là 30 triệu đồng. Sau đó mẹ em cho chị ruột mượn để xây nhà nhưng dì không có khả năng chi trả. Khi 3 người bạn đó biết được đã ráo riết đòi nên mẹ em đã phải chi trả theo kiểu mẹ vay tiền nóng và đong tiền lời hàng tháng cho họ.
Tuy nhiên lãi mẹ đẻ lãi con, sau gần 1 năm vì không thể tiếp tục chi trả nên mẹ em đã trốn khỏi địa phương. 3 người phụ nữ trên đã khởi tố và toà án đã phát lệnh truy nã với mẹ em cho đến nay. Số tiền gốc và lãi tại thời điểm mẹ em trốn là khoảng 300 triệu. Sau đó khoảng 10 năm ông nội em có gọi 3 người phụ nữ đó về nhà và trả cho mỗi người 8 triệu xem như trả bớt phần nào tiền gốc. Và có 2 người đã kí vào đơn bãi nại đã nộp cho toà án. Thời gian tính từ lúc mẹ em bị truy nã đến nay đã gần 20 năm.
Vậy nếu bây giờ em muốn đưa mẹ về để tự thú thì có bị tạm giam hay không? Và nếu dựa vào 1 số tình tiết giảm nhẹ như đã bồi thường 1 phần cho người bị hại, khi bỏ trốn do chủ nợ doạ nạt đòi chém đòi giết, chồng con li tán, thì mẹ em có phải ở tù không? Và có cách nào để mẹ em bị khung hình phạt nhẹ nhất hay không? Lệnh truy nã sau 20 năm có được xoá hay không ạ?
Em cám ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Dựa vào thông tin bạn cung cấp chúng tôi giải đáp từng vấn đề như sau:

Đưa mẹ ra đầu thú thì mẹ có bị tạm giam?

>> Xem thêm:  Nhắn tin, gọi điện xúc phạm người khác xử lý thế nào ?

Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về tạm giam như sau:

Điều 119. Tạm giam

1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.

3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.

Căn cứ vào quy định trên nhận thấy, khả năng cao là mẹ bạn sẽ bị tạm giam. Tuy nhiên theo chúng tôi, bạn vẫn nên đưa mẹ mình ra đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

- Có phải chịu hình phạt tù không?

Như bạn đã nêu, sự việc xảy ra vào năm 1995, bởi vậy ta cần căn cứ các quy định sau:

Điều 135. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa. (Bộ Luật hình sự năm 1985)

1- Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm:

a) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản....

Có thể thấy, theo quy định tại 2 văn bản ở hai thời đểm thì hành vi của mẹ bạn đều có thể bị truy cứu về tội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp mẹ bạn phải chịu hình phạt tù mà muốn được hưởng mức phạt nhẹ thì mẹ bạn cần có những tình tiết giảm nhẹ như ăn năn hối cải, gia đình tự nguyện bồi thường, có đơn xin giảm án của bị hại, có nhân thân tốt.... Mức hình phạt cụ thể sẽ do Tòa án quyết định.

- Lệnh truy nã sau 20 năm có được xoá hay không?

Mục 13-Phần II-Công văn 81/2002/TANDTC quy định các trường hợp quyết định truy nã hết hiệu lực như sau: "Quyết định (lệnh) truy nã chỉ hết hiệu lực khi người bị truy nã đã chết hoặc bị bắt giữ theo quyết định (lệnh) truy nã hoặc trong trường hợp có quyết định đình nã của cơ quan điều tra". Theo đó, không có một thời hạn cụ thể quyết định hiệu lực pháp lý của quyết định truy nã.

Mặt khác,oảng thời gian mẹ bạn bỏ trốn sẽ không được tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu sẽ được tính lại từ đầu khi mẹ bạn ra đầu thú.

Từ đó khẳng định rằng, không có thời hạn của một quyết định truy nã và cũng không có căn cứ về hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với mẹ bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Phải làm gì để bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín khi bị người khác xâm phạm ?

4.Hình phạt khi lừa đảo dưới 200 triệu đồng?

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi nếu người lừa đảo với số tiền dưới 200.000.000 đồng và đã thu hồi lại được đủ số tiền. Nhưng bị hơn 1 người tố cáo thì mức án ở khung hình phạt như thế nào ạ. Tôi chưa có tiền án tiền sự.
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ phải chịu mức hình phạt như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

....

Do đó, với số tiền lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 200 triệu đồng thì người có hành vi vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với khung hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Mức hình phạt cụ thể sẽ do thấm phán quyết định dựa trên mức độ nguy hiểm trong hành vi của người vi phạm. Tuy nhiên, nếu có một trong các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) thì có thể bạn sẽ được quyêys định hình phạt nhẹ hơn so với mức hình phạt đã nêu.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hiếp dâm không thành có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ?