Chỉ khi nào một người chứng đắc giác ngộ thì sẽ tự mình hiểu được. Những câu trả lời hay khái niệm mà ngay cả Đức Phật giải thích cho chúng ta cũng chỉ là khái niệm, không thể nào tả được tâm giác ngộ (cũng như trạng thái Niết-bàn).

Khác với những sự giác ngộ khác  về  tư tưởng hay về một khoa học, sự “giác ngộ” trong Phật giáo  là sự hiểu-rõ, thấy-biết và chứng nghiệm được chân  lý mà Đức Phật đã giảng dạy, đó là sự giác ngộ về Phật Pháp; là sự tỉnh thức, sự nhìn-thấy rõ mọi bản chất của sự sống đích-thực-như-nó-là.

Giác ngộ hoàn toàn là giác ngộ trọn vẹn (viên mãn), là chứng đắc trạng thái Niết-bàn.

Tùy theo căn cơ của  mình, mỗi người có năng  lực và ‘tốc  độ’ giác ngộ nhanh hay chậm, nhiều hay  ít trong quá trình học hiểu và tu tập [văn, tư, tu], mỗi phần giác ngộ ít/nhiều đó thường được gọi là “giác ngộ từng phần”, có phần đã giác ngộ, có phần chưa giác ngộ thấu đáo.

Tuy nhiên, sự giác ngộ thực-sự là khi người tu đã bước vào dòng thánh đạo siêu thế. Từ đó, giáo lý chính quy có phân loại bốn phần (giai đoạn, tầng)  giác ngộ. Giai đoạn đầu được gọi là “Nhập Lưu”, tức là người tu đã bước được vào dòng thánh-đạo: con đường tu hành giác ngộ và giải thoát của bậc thánh nhân. Bởi vậy, từ sau Nhập Lưu,  người tu được gọi  là một thánh nhân.

Người Nhập Lưu chỉ còn phải bị tái sinh lại trần gian tối-đa 6 lần nữa (cộng với kiếp này là 7 kiếp) trước khi giác ngộ hoàn toàn và chứng đắc Niết-bàn. Tối đa thời gian là vậy. Nếu không chứng Niết-bàn trong kiếp này, thì mỗi kiếp sau lại tốt hơn  kiếp trước. Người đã là thánh Nhập Lưu thì không còn có thể tạo nghiệp xấu ác, không còn có thể thối chuyển (hoàn tục) lại đời sống trần tục nữa (nếu  tái  sinh cũng xuất gia tiếp tục tu hành.

  1. Giai đoạn giác ngộ thứ hai gọi là “Nhất Lai”, có nghĩa là chỉ còn tái sinh quay lại trần gian một lần nữa thôi trước khi giác ngộ hoàn toàn.
  2. Giai đoạn thứ ba là “Bất Lai”, có nghĩa là không còn bị tái sinh lại trần gian một lần nào nữa. Người này sẽ được tái sinh về  cõi trời, đó là  Cõi Trời Trong Sạch (Sudhavasa, HV dịch: cõi Tịnh Cư Thiên), được sống với tuổi thọ tối thiểu rất dài, bằng ¼ đại kiếp vũ trụ, và có thể tu tập chứng sự Niết-bàn từ cõi đó. (như đã nói trong vấn đáp 38).
  3. Giai đoạn thứ tư là giai đoạn giác ngộ hoàn toàn, chứng đắc luôn Niết-bàn, trở thành bậc giải thoát hoàn toàn—bậc thánh A-la-hán (Arahant).

Đức Phật cũng là một bậc A-la-hán và là A-la-  hán đầu tiên trong cõi người chúng ta. Đức Phật giác ngộ hoàn toàn và chứng đắc Niết-bàn bằng nỗ lực tự thân chứ không phải nhờ vào hướng dẫn của giáo lý hay một vị thầy khác. Chính những đại thiện nghiệp và công đức vô lượng của Người đã giúp Người giác ngộ thành Phật. Đức Phật  khác  bậc A-la-hán  ở chỗ là Người chứng đắc loại trí-tuệ  viên-mãn,  trở thành vị Phật chánh đẳng chánh giác (sama sambudha) với đầy đủ trí tuệ và năng lực để truyền dạy Giáo Pháp cho chúng sinh, giúp chúng sinh giác ngộ giải thoát.

Theo Phật giáo Nguyên thủy thì các Phật tử (nhất là người xuất-gia) trong kiếp làm người đã đều cố gắng tu tập với tâm nguyện  được giác ngộ ít nhất một giai đoạn nào đó trong bốn giai đoạn trên, tức được giác ngộ từng-phần.

Còn đối với cách nói thông thường, khi  một  người hiểu-biết được một phần giáo lý thì được khen là đã hiểu được một phần, đã có được sự “giác ngộ từng phần”.

Tuy nhiên sự giác ngộ “từng-phần” đó phải là sự hiểu biết giác ngộ “trọn vẹn” cái chủ đề từng-phần đó, chứ không phải là sự hiểu biết sơ-sài hay một phần nào về chủ-đề đó!. Vì vậy, trong một ý nghĩa cứu cánh, “giác ngộ” là giác ngộ, là sự hiểu biết và chứng biết “trọn-vẹn” chứ không phải là từng-phần. Ví dụ: “Giác ngộ hoàn toàn” giống như một bể nước sôi, còn “giác ngộ từng phần” giống như  một  ly  nước sôi, rất nhỏ so với bể nước sôi.  Tuy  nhiên, nước sôi ở trong bể hay nước trong ly đều phải đạt 100 độ C thì mới gọi là nước sôi. Chứ nước nóng 90 độ C không phải là nước sôi. Sự hiểu biết sơ-sài và không hoàn toàn về một  điều gì thì không phải là một sự giác ngộ, và cũng không phải là một sự “giác ngộ từng-phần” nào hết.

Và chỉ có người giác ngộ mới biết được mình  giác ngộ như thế nào, người khác không thể biết được. Trong Giới Luật đạo Phật cũng có điều cấm một tu sĩ chưa giác ngộ mà thông báo là mình đã chứng đắc giác ngộ.

Niết-bàn cũng vậy, là trạng thái tâm không thể tả được của một người đã chứng giác ngộ hoàn toàn,   đã giải thoát hoàn toàn mọi khổ đau và ràng buộc   với thế giới. Không ai có thể hiểu được  cảm giác  này ngoài người đã chứng đắc Niết-bàn.

Còn trong đời thường, nhiều lúc chúng ta cũng hay dùng chữ “Niết-bàn từng phần”, “Niết-bàn nho nhỏ” để diễn tả trạng thái bình an, hạnh phúc  và thanh tịnh của tâm sau khi thực hiện một hành động công-đức tốt lành, ví dụ như một  hành  động  “bố thí”, việc làm “đạo đức”, hoặc một sự tiến bộ nhờ việc “thiền tập” đúng đắn; bởi vì những việc  tốt  thuộc “3 mảng tu tập” này trong đạo Phật  đều  là hành động mang lại sự hạnh phúc và trong sạch của tâm. Đó giống như những trạng thái “niết-bàn” nho nhỏ, giống như những bông hoa xinh đẹp nhiều lúc xuất hiện trên con-đường chúng ta đi. Mỗi sự tu tập đúng đắn hàng ngày của chúng ta cũng giống như những “niết-bàn từng-phần” nho nhỏ trên bước  đường đạo của chúng ta vậy.

Niết-bàn hay Niết-bàn nho nhỏ như chúng ta thường nói thì cũng đều giống nhau về  trạng  thái tâm, đó là trạng thái bình an và thanh tịnh không bao giờ phôi phai, không làm chúng ta chán bỏ  vì bất toại nguyện. Niết-bàn dù có nho nhỏ cũng là tâm trạng hạnh phúc, không bị thay đổi, và luôn làm chúng ta hạnh phúc mỗi khi nghĩ lại.