- Trả lời:
- 1. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
- 2. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:
- 3. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch
- 4. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
- 5. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
Tình huống:
Nhưng để trốn nghĩa vụ nộp thuế bán nhà cho Nhà nước, 2 anh thỏa thuận là làm hợp đồng tặng cho tài sản và A làm hợp đồng tặng cho B căn nhà của mình (đã qua công chứng). Sau đó có xảy ra tranh chấp về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền: A yêu cầu B trả số tiền nhà mà A đã thỏa thuận bán cho B (vì A cho B trả tiền sau 1 tháng ) còn B cho rằng B được tặng ngôi nhà nên không trả tiền cho A, A đã nhờ anh D làm chứng sự việc hai người bán nhà để yêu cầu B trả nhưng B vẫn không đồng ý vì B cho rằng theo hợp đồng đã làm thì B không phải trả tiền. Chính vì thế A và B đã yêu cầu toàn án giải quyết.
>> Luật sư tư vấn pháp luật đất dân sự tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
1. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo
Giao dịch dân sự giả tạo là việc các bên xác lập một giao dịch để nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc thực hiện giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu. Khi đó với giao dịch nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch bị giả tạo sẽ bị vô hiệu còn giao dịch che giấu vẫn có hiệu lực nếu như giao dịch bị che giấu đó vẫn tuân thủ đúng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Trường hợp giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch bị giả tạo đương nhiên bị vô hiệu.
Giao dịch dân sự giả tạo có sự thông đồng, nhất trí của cả hai bên tham gia giao dịch dân sự nhằm tạo ra sự nhận thức sai lầm bên ngoài sự việc. Các giao dịch dân sự giả tạo đều bị coi là vô hiệu. Theo quy định tại điều 117, Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
"Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này.Trong trường hợp xác lập giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch đó vô hiệu."
Trong tình huống trên, A bán nhà cho B với số tiền là 500 triệu đồng. Nhưng để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước, A và B đã ký hợp đồng tặng cho tài sản (đã qua công chứng). Sau khi bán nhà xong, B không chịu trả tiền nợ cho A thì hợp đồng tặng cho tài sản giữa A và B sẽ bị coi là vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với nhà nước.
Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu được giải quyết theo Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Trong trường hợp này, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Vì vậy, nếu A và B lúc này không muốn tiếp tục mua bán quyền sử dụng đất thì có thể yêu cầu Tòa án hủy giao dịch trên, và hai bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận. Nếu A và B muốn tiếp tục hoạt động chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì cần phải ký kết hợp đồng chuyển nhượng, và phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2. Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:
Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là khoảng thời gian được tính từ thời điểm này đến thời điểm khác, mà khi hết khoảng thời gian đó chủ thể tham gia giao dịch hoặc chủ thể có quyền và lợi ích liên quan không được quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Thời hiệu yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định như sau:
Thứ nhất, nhóm các giao dịch dân sự bị giới hạn về thời hiệu tuyên bố vô hiệu bao gồm: Một là, giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, kể từ ngày người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;
Hai là, giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhàm lẫn, lừa dối: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm, kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;
Ba là, giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm kể tò ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;
Bốn là, giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm kể từ ngày người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch; Năm là, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập. Hết thời hiệu yêu cầu trên mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.
Thứ hai, nhóm giao dịch dân sự không bị giới hạn về thời hiệu tuyên bố vô hiệu. Gồm: Một là, giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội; Hai là, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Hai trường hợp trên đều thuộc trường hợp vô hiệu tuyệt đối. Đối với hai trường hợp này thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế. Điều này xuất phát từ mục đích tuyên bố các giao dịch này nhằm bảo vệ quyền lợi ích chung của các cộng đồng, xã hội.
3. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm các quy định bắt buộc về hình thức của giao dịch
Theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 về nguyên tắc chung thì các chủ thể được tự do lựa chọn hình thức của giao dịch. Chỉ những giao dịch pháp luật quy định bắt buộc phải thể hiện bằng văn bản, phải có chứng thực, chứng nhận, đăng kí hoặc xin phép mà các bên không tuân thủ quy định này mới bị vô hiệu. Khi các bên không tuân thủ các quy định này thì vô hiệu, trừ những trường hợp sau đây:
- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.
4. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Cơ sở pháp lý: Điều 123 Bộ luật dân sự 2015
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. BLDS 2015 đã thu hẹp phạm vi điều cấm “của luật” so với BLDS trước đây điều cấm “của pháp luật”.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Giao dịch vi phạm quy định này đương nhiên bị coi là vô hiệu không phụ thuộc vào ý chí của các bên tham gia giao dịch. Tài sản giao dịch và lợi tức thu được có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước. Ví dụ: Giao dịch mua bán và vận chuyển vũ khí vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, cụ thể là vi phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự được quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
5. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn
Cơ sở pháp lý: Điều 126 Bộ luật dân sự 2015
Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp:
– Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.
Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia. Sự nhầm lẫn xuất phát từ nhận thức của các bên hoặc phán đoán sai lầm về đối tượng sự việc, sự nhầm lẫn phải được thể hiện rõ ràng mà căn cứ vào nội dung của giao dịch phải xác định được. Nếu bên bị nhầm lẫn chứng minh được sự nhầm lẫn của mình thì giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu.
Trong nhiều trường hợp, sự nhầm lẫn có thể xảy đến do lỗi của bên đối tác. Khi một bên có lỗi làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch mà xác lập giao dịch (ví dụ: Không đưa ra chỉ dẫn rõ ràng bằng tiếng Việt về công dụng của tài sản…) thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó. Nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 126 BLDS năm 2015). Tuy nhiên, lỗi ở đây chỉ có thể là lỗi vô ý. Nếu sự nhầm lẫn do lỗi cố ý của bên đối tác thì khi đó sẽ thuộc trường hợp vô hiệu do lừa dối.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số:1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê