1. Trộm laptop của bạn cùng phòng bị phạt như thế nào?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

Thưa Luật sư, bạn ở chung phòng của em trai em 1( tên A). Một hôm gọi em trai em ra nói chuyện lấy laptop của bạn cùng phòng ( tên C) rồi nó chia cho ít mà xài nhưng em của em lưỡng lự không đồng ý rồi nó đi về. Đến tối thằng kia gọi cho em của em nhiều lần mà nó không nghe máy, khoảng 12 giờ nó gọi em của em tiếp.
Trong lúc trên dường đi chơi về thì nó nghe máy xong nó vào phòng của C lấy 2 cái laptop của C. Rồi A đưa ổ khóa kếu nó khóa cửa ngoài lại thì em của em làm theo khóa xong nó về phòng ngủ rồi đến trưa hôm sau A gọi cho nó nói là bị bắt rồi xong nó đem 2 cái laptop đó trả lại cho C. Trả xong thì bạn nó gọi cho nó kêu đem đi trả cho người bị mất thì nó bảo nó trả rôi. Vậy Luật sư cho e hỏi em trai của em bị xử phạt như thế nào ạ?
Mong sớm nhận được phản hồi từ phía Luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: T.K

Trả lời:

Chào bạn, như thông tin mà bạn cung cấp thì em bạn vào phòng của C lấy 2 cái laptop của C. Như vậy em bạn sẽ bị truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bố sung 2017 về tội trộm cắp tài sản. Cụ thể Điều 173 quy định như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

Vì bạn không nói rõ là trị giá của 2 chiếc laptop nên chúng tôi hông thể tư vấn cụ thể cho bạn được. Vì vậy bạn có thể đối chiếu với quy định trên của pháp luật để xem trường hợp của em bạn thuộc một trong các khoản của điều 173 Bộ luật hình sự 2015

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

2. Lấy trộm điện thoại thì có phải đi tù không?

Chào luật sư! Vào 8h tối ngày thứ 7 - 30/06/2015 tôi và bạn tôi đi đến tiệm thuốc tây mua thuốc thì thấy 1 chiếc điện thoại iphone 6 để quên (tôi nghĩ là của người khác để quên vì nó nằm trên chiếc kệ nhỏ trưng bày sản phẩm giữa nhà thuốc) . Tôi chỉ bạn tôi vào nhặt. bạn tôi cầm điện thoại về nhà và mở icloud bằng số điện thoại của bạn ấy trong đêm đó đến chủ nhật bạn tôi báo cho tôi biết đt đã có thể dùng được. Trưa chủ nhật , tôi và bạn tôi bàn bạc đưa điện thoại đó cho chị ruột tôi sử dụng ( vì tôi thiếu chị tôi 5 triệu đồng) sau đó chị tôi giữ điện thoại đó nhưng cũng không dùng đến. Đến tối ngày chủ nhật bạn tôi nhận nhiều số điện thoại lạ gọi đến số mà bạn tôi đã dùng để mở icloud , nhưng người gọi đến hỏi có phải là... (tên 1 người lạ nào đó, không phải bạn tôi) nhưng do lúc đó bạn tôi đang ở ngoài đường , họ gọi liên tục nên bạn tôi tắt điện thoại của mình không nghe. Đến chiều ngày thứ 2 tiếp, công an gọi đến nói cần hỏi bạn tôi 1 số việc.
Tối đó, chúng tôi cùng nhau đi đến công an phường để làm việc, họ nói có người trình báo việc mất iphone và công an dựa theo số điện thoại của bạn tôi mở icloud để kiếm ra bạn tôi, họ nói tại tiệm thuốc tây còn có camera quay lại. Tôi cùng bạn tôi đến công an trình bày sự việc, khoảng 1 tiếng sau khi chúng tôi lên thì chị tôi mang chiếc iphone 6 trả lại cho chủ cũ nhưng công an không cho bạn tôi và tôi về nhà mà giữ lại trên phường 1 đêm và giữ chiếc điện thoại lại để chuyển lên công an quận xử lý. Tối ngày thứ 3, chúng tôi bị áp giải lên công an quận khoảng 10h đêm, họ thả chúng tôi về, nhưng giữ lại chứng minh nhân dân ( bản gốc ) Sau khi về nhà, tôi có liên hệ với chủ điện thoại hỏi thăm về việc bãi nại. Và họ nói không thưa kiện gì chúng tôi cả và sẵn sàng làm đơn bãi nại cho chúng tôi. Lúc ở công an phường, công an nói là chỉ cần giao trả lại điện thoại rồi hòa giải giữa đôi bên là xong xuôi mọi việc nhưng sau đó hồ sơ của chúng tôi lại được chuyển ra quận và chúng tôi và người mất điện thoại không được tiếp xúc nhau lần nào cả. Từ ngày đó 02/07/2015, họ mời tôi lên 2 lần để lấy lời khai và mời bạn tôi 1 lần lấy lời khai ( trước đó tại phường chúng tôi đã khai 2 bản) và lần cuối tôi lên là vào ngày 13/08/20115.
Những lời khai của chúng tôi hoàn toàn trùng khớp và y như mọi chuyện xảy ra. Sau khi ra về người công an đó còn bảo chúng tôi không được đi đâu xa và lâu để chờ lệnh khởi tố của tòa về tội trộm cắp tài sản. Đến ngày 06/11/2015, 1 người công an gọi điện thoại cho bạn tôi gọi lên công an quận tiếp tục làm việc tiếp lần 2. ngày 09/11/2015 bạn tôi lên làm việc tiếp thì cũng hỏi lại y nhu những chuyện trước giờ đã hỏi, và bạn tôi cũng trả lời y như cũ. Rồi sau đó , đưa giấy mời cho tôi vào ngày 11/11/2015 , trong giấy ghi rằng " điều tra về việc chiếm giữ tài sản trái phép" .Tôi xin hỏi luật sư :
1) Tôi cùng bạn tôi có phạm phải tội " Chiếm giữ trái phép tài sản " hay không ?
2) Thời hạn để công an điều tra vụ việc là bao lâu ?
3) Nếu bị buộc tội chúng tôi sẽ lãnh mức hình phạt như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, quy định về tội trộm cắp tài sản
Thứ nhất, hành vi của bạn có cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản không?
Theo như thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bạn và bạn của bạn khi đi đến hiệu thuốc tây đã thấy một chiếc điện thoại iphone 6 để quên và 2 bạn đã cầm chiếc điện thoại đó về. Việc các bạn mang chiếc điện thoại đó về nhà mà biết rõ đó không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu của mình nhưng đã cố ý dịch chuyển tài sản của người khác thành tài sản của mình một cách lén lút lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bạn có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 BLHS chứ không phải tội chiếm giữ trái phép tài sản. Hành vi của bạn chỉ cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản khi bạn cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản nhưng khi lên cơ quan công an bạn đã gọi cho chị của bạn mang chiếc điện thoại đó trả cho chủ sở hữu của nó chứ không có hành vi cố tình không trả lại tài sản nên không cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản.
Thứ hai, về thời hạn điều tra vụ án hình sự.

Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:

+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

Mặt khác, hành vi của bạn có thể cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 BLHS với khung hình phạt cao nhất là đến 3 năm thì đây được coi là tội ít nghiêm trọng thì thời hạn điều tra vụ án này có thể kéo dài không quá 02 tháng, trong cả trường hợp cần phải gia hạn điều tra thì thời hạn điều tra được gia hạn 1 lần và không quá 02 tháng. Như vậy, tổng thời hạn điều tra cho vụ án trên có thể kéo dài trong 4 tháng kể từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự.
Thứ ba, Trong trường hợp bạn bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản thì khung hình phạt cao nhất có thể áp dung là đến 3 năm tù theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật tố tụng hình sự.

>> Xem thêm:  Lỗi tai nạn giao thông chết người có bị khởi tố hoặc phải đền bù thế nào ?

3.Xử phạt đối với hành vi lấy trộm xe máy PCX?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Anh trai em từng có tiền án tội trộm cắp tài sản và bị xữ phạt 24 tháng tù, cho đến nay là đã được xóa án tích. Cách đây khoảng 1 tháng anh trai em có hành vi đột nhập vào nhà người khác lấy trộm 1 chiếc xe pcx và đã bị camera ghi hình nhận dạng, nhưng họ không biết người trong hình là ai và ở đâu.
Tuần trước anh trai em đi chơi đêm ở khu vực này bị hình sự xét giấy tờ tùy thân vừa đưa CMND ra trình thì anh em bỏ xe lại, chạy trốn. Sau đó công an ở nơi A này dựa theo CMND và đã xác minh được người này là người trong camera gây án ngày hôm đó .và họ truy tìm anh trai em. Nghe tin .em có đem đầy đủ giấy tờ xe của mình lên lãnh xe mà không được . công an nói khi nào anh trai em bị bắt thì xe mới được trả về . vì đây là xe gây án có trong đoạn camera nhưng mới hôm kia anh trai em qua nơi B tụ tập pan pe chơi bời gì đó em không rõ .sau đó bị công an ở nơi B này đem về và xử phạt tội sử dụng chất trái phép ma túy đá và bị chuyển đi trường cai 2 năm. Cứ ngỡ như vậy là xong.
Hồi chiều nay em nge tin hình sự và công an của nơi A đi qua nơi C Nơi mà anh em đã từng ghé chơi họ đưa hình anh em và tìm kiếm anh em ý em muốn hỏi lúc này là. anh em đã được chuyển đi trường cai rồii, có lẽ các nơi A ,C ... chưa biết . nhưng họ vấn đang tìm kiếm anh em như vậy thì nếu họ biết anh em đã bị bắt như vậy rồi thì họ có lên án chuyển thẳng anh em qua trường tù không? nếu bị án này thì anh em bị xử phạt đi tù bao lâu vậy .tính luôn cả trường hợp không biết anh em có còn gây án ở những nơi nào nữa nhưng không bị camera ghi lại .giải đáp và phân tích cụ thể giúp em với .

Căn cứ vào những tình tiết bạn kể, anh trai của bạn đột nhập vào nhà của người khác lấy trộm tài sản, tuy họ không nhận ra hình dạng của anh bạn trong camera nhưng một khi người mất tài sản tố giác với cơ quan công an và truy tìm ra thủ phạm là anh trai của bạn thì anh bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Như vậy, nếu công an tìm thấy anh trai bạn, trước hết họ sẽ tiến hành điều tra. Khi đã có kết luận điều tra xác định rằng anh bạn có hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Việc anh của bạn trước đây đã từng có tiền án tội trộm cắp nhưng đã được xóa án tích theo đó tiền án này không được coi là tình tiết để tăng nặng nhưng nó là một yếu tố để đánh giá bị cáo, để tòa ra một bản án công minh, hạn chế việc phạm tội sau khi hoàn lương. Việc đánh giá nhân thân của một người là tốt hay xấu phải xem xét toàn diện trong cả một quá trình dài. Một người từng phạm tội, nay lại tiếp tục phạm tội thì dù lần phạm tội trước đã được xóa án cũng vẫn thể hiện nhân thân xấu của họ. Nếu xem họ như những người lần đầu phạm tội thì sẽ không đảm bảo tính công bằng, khách quan.

4.Căng dây điện chống trộm sẽ bị xử lý tội giết người?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Pháp luật không có quy định cụ thể để phân biệt về việc căng dây điện chống trộm ở trong nhà hay ngoài nhà, chỉ quy định chung về việc sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 thì hệ thống tải điện là một trong những “nguồn nguy hiểm cao độ”; chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật. Trên thực tế, mặc dù điện là nguồn năng lượng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế, xã hội nhưng việc sử dụng điện tùy tiện, không tuân thủ các quy tắc về an toàn… đã dẫn đến nhiều vụ cháy, nổ gây thiệt hại đến tài sản hoặc gây hậu quả chết người.

Căng dây điện chống trộm sẽ bị xử lý tội giết người ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: - 1900.6162

Đối với hành vi sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp, Điều 59 Luật Điện lực 2004, quy định:

1. Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp là dùng nguồn điện có mức điện áp thích hợp đấu nối trực tiếp vào hàng rào, vật cản, vật che chắn của khu vực được bảo vệ (sau đây gọi chung là hàng rào điện) để ngăn cản việc xâm phạm khu vực được bảo vệ và phát tín hiệu báo động cho người bảo vệ khu vực đó biết.

2. Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp chỉ được thực hiện khi sử dụng các biện pháp bảo vệ khác không hiệu quả và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.

...”.

Điều luật này cũng quy định:

Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình quy định khu vực được phép sử dụng hàng rào điện. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp quy định tiêu chuẩn và điều kiện sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp”.

Như vậy, việc sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp phải tuân theo nhiều điều kiện rất nghiêm ngặt và đặc biệt là “phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”. Các hành vi “Sử dụng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ” không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 59 của Luật Điện lực nói trên đều bị pháp luật nghiêm cấm (Điều 7 Luật Điện lực). Tùy từng trường hợp cụ thể, người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

a) Theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 15 Nghị định số 134/2013/ND-CP ngày 17/6102013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực thì “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ trực tiếp trái quy định của pháp luật…”. Với quy định này thì chỉ cần thực hiện một trong các hành vi vừa nêu là đã bị coi là hành vi vi phạm và đã đủ điều kiện để xử lý vi phạm hành chính, không cần có hậu quả xảy ra.

b) Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Do là nguồn nguy hiểm cao độ nên người có hành vi sử dụng điện để chống trộm, bảo vệ tài sản, hoa màu; sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ… buộc phải nhận thức được tính chất nguy hiểm của phương tiện mà họ sử dụng nhưng vẫn cố ý sử dụng, họ thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và mong muốn (hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra) nên hành vi của họ mang đầy đủ dấu hiệu của tội giết người.

Ngoài ra, đối với trường hợp sử dụng điện trái phép làm chết người, TANDTC cũng đã có hướng dẫn: “Về nguyên tắc chung, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người”.

Pháp luật không có quy định cụ thể để phân biệt về việc căng dây điện chống trộm ở trong nhà hay ngoài nhà, chỉ quy định chung về việc “sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người”.

Căn cứ các quy định của pháp luật viện dẫn ở trên thì thấy trường hợp căng dây điện (dù là trong nhà) đã là hành vi vi phạm pháp luật. Việc làm này có thể dẫn đến chết người nhưng chủ nhà vẫn cố ý thực hiện nên trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra thì hành vi căng dây điện chống trộm, tước đoạt tính mạng của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tình tiết “dùng dây điện căng chống trộm trong nhà, khi đi làm đã khóa cửa nhưng trộm phá khóa vào và bị điện giật chết” chỉ có thể là tình tiết để Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?