1. Trộm laptop của bạn cùng phòng bị phạt như thế nào?
Trả lời:
Chào bạn, như thông tin mà bạn cung cấp thì em bạn vào phòng của C lấy 2 cái laptop của C. Như vậy em bạn sẽ bị truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bố sung 2017 về tội trộm cắp tài sản. Cụ thể Điều 173 quy định như sau:
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
Vì bạn không nói rõ là trị giá của 2 chiếc laptop nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể cho bạn được. Vì vậy bạn có thể đối chiếu với quy định trên của pháp luật để xem trường hợp của em bạn thuộc một trong các khoản của Điều 173 Bộ luật hình sự 2015
2. Lấy trộm điện thoại thì có phải đi tù không?
Trả lời:
Sau khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sẽ tiến hành điều tra. Thời hạn điều tra được quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:
+ Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
+ Nếu vụ án có tính chất phức tạp thì có thể được gia hạn thời hạn điều tra, cụ thể: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng; Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Xử phạt đối với hành vi lấy trộm xe máy PCX?
Căn cứ vào những tình tiết bạn kể, anh trai của bạn đột nhập vào nhà của người khác lấy trộm tài sản, tuy họ không nhận ra hình dạng của anh bạn trong camera nhưng một khi người mất tài sản tố giác với cơ quan công an và truy tìm ra thủ phạm là anh trai của bạn thì anh bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm tội trộm cắp tài sản quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Như vậy, nếu công an tìm thấy anh trai bạn, trước hết họ sẽ tiến hành điều tra. Khi đã có kết luận điều tra xác định rằng anh bạn có hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 154 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Việc anh của bạn trước đây đã từng có tiền án tội trộm cắp nhưng đã được xóa án tích theo đó tiền án này không được coi là tình tiết để tăng nặng nhưng nó là một yếu tố để đánh giá bị cáo, để tòa ra một bản án công minh, hạn chế việc phạm tội sau khi hoàn lương. Việc đánh giá nhân thân của một người là tốt hay xấu phải xem xét toàn diện trong cả một quá trình dài. Một người từng phạm tội, nay lại tiếp tục phạm tội thì dù lần phạm tội trước đã được xóa án cũng vẫn thể hiện nhân thân xấu của họ. Nếu xem họ như những người lần đầu phạm tội thì sẽ không đảm bảo tính công bằng, khách quan.
4. Căng dây điện chống trộm sẽ bị xử lý tội giết người?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 thì hệ thống tải điện là một trong những “nguồn nguy hiểm cao độ”; chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải tuân thủ các quy định bảo quản, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng các quy định của pháp luật. Trên thực tế, mặc dù điện là nguồn năng lượng phục vụ đời sống và phát triển kinh tế, xã hội nhưng việc sử dụng điện tùy tiện, không tuân thủ các quy tắc về an toàn… đã dẫn đến nhiều vụ cháy, nổ gây thiệt hại đến tài sản hoặc gây hậu quả chết người.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: - 1900.6162
Đối với hành vi sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp, Điều 59 Luật Điện lực 2004, quy định:
“1. Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp là dùng nguồn điện có mức điện áp thích hợp đấu nối trực tiếp vào hàng rào, vật cản, vật che chắn của khu vực được bảo vệ (sau đây gọi chung là hàng rào điện) để ngăn cản việc xâm phạm khu vực được bảo vệ và phát tín hiệu báo động cho người bảo vệ khu vực đó biết.
2. Sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp chỉ được thực hiện khi sử dụng các biện pháp bảo vệ khác không hiệu quả và phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
...”.
Điều luật này cũng quy định:
“Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình quy định khu vực được phép sử dụng hàng rào điện. Bộ trưởng Bộ Công nghiệp quy định tiêu chuẩn và điều kiện sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp”.
Như vậy, việc sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ trực tiếp phải tuân theo nhiều điều kiện rất nghiêm ngặt và đặc biệt là “phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép”. Các hành vi “Sử dụng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ” không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 59 của Luật Điện lực nói trên đều bị pháp luật nghiêm cấm (Điều 7 Luật Điện lực). Tùy từng trường hợp cụ thể, người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
a) Theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 15 Nghị định số 134/2013/ND-CP ngày 17/6102013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực điện lực thì “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: Sử dụng điện để bẫy, bắt động vật hoặc làm phương tiện bảo vệ trực tiếp trái quy định của pháp luật…”. Với quy định này thì chỉ cần thực hiện một trong các hành vi vừa nêu là đã bị coi là hành vi vi phạm và đã đủ điều kiện để xử lý vi phạm hành chính, không cần có hậu quả xảy ra.
b) Giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Do là nguồn nguy hiểm cao độ nên người có hành vi sử dụng điện để chống trộm, bảo vệ tài sản, hoa màu; sử dụng điện làm phương tiện bảo vệ… buộc phải nhận thức được tính chất nguy hiểm của phương tiện mà họ sử dụng nhưng vẫn cố ý sử dụng, họ thấy trước được hậu quả có thể xảy ra và mong muốn (hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra) nên hành vi của họ mang đầy đủ dấu hiệu của tội giết người.
Ngoài ra, đối với trường hợp sử dụng điện trái phép làm chết người, TANDTC cũng đã có hướng dẫn: “Về nguyên tắc chung, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: Đối với trường hợp sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người”.
Pháp luật không có quy định cụ thể để phân biệt về việc căng dây điện chống trộm ở trong nhà hay ngoài nhà, chỉ quy định chung về việc “sử dụng điện trái phép để chống trộm cắp mà làm chết người thì người phạm tội phải bị xét xử về tội giết người”.
Căn cứ các quy định của pháp luật viện dẫn ở trên thì thấy trường hợp căng dây điện (dù là trong nhà) đã là hành vi vi phạm pháp luật. Việc làm này có thể dẫn đến chết người nhưng chủ nhà vẫn cố ý thực hiện nên trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra thì hành vi căng dây điện chống trộm, tước đoạt tính mạng của người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tình tiết “dùng dây điện căng chống trộm trong nhà, khi đi làm đã khóa cửa nhưng trộm phá khóa vào và bị điện giật chết” chỉ có thể là tình tiết để Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt.
5. Đốt nhà người khác có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
đ) Tài sản là di vật, cổ vật.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
c) Tài sản là bảo vật quốc gia;
d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
đ) Để che giấu tội phạm khác;
e) Vì lý do công vụ của người bị hại;
g) Tái phạm nguy hiểm,
3. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.
4. Phạm tội gây thiệt hại cho tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trân trọng ./.
Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê