- 1. Trộm cắp tài sản là gì? Ví dụ và phân biệt với hành vi khác
- 2. Tại sao trộm cắp tài sản trên 2 triệu bị khởi tố?
- 3. Các ngưỡng giá trị tài sản và hình thức xử lý tương ứng
- 3.1. Phạt tiền hành vi trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng
- 3.2. Phạt tù hành vi trộm cắp tài sản từ 2 triệu đồng trở lên
- 3.3. Những trường hợp đặc biệt trộm cắp dưới 2 triệu đồng vẫn phạm tội
- 4. Cách xác định giá trị tài sản bị trộm cắp
1. Trộm cắp tài sản là gì? Ví dụ và phân biệt với hành vi khác
Khái niệm trộm cắp tài sản được hiểu là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác quản lý. Dấu hiệu để phân biệt hành vi trộm cắp tài sản với các hành vi xâm phạm sở hữu khác là: Đặc điểm hành vi lén lút và tài sản bị trộm cắp là tài sản đang có người khác quản lý.
Hành vi chiếm đoạt (tài sản) của tội trộm cắp tài sản có tính chất lén lút, có nghĩa: Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút, Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi hành vi này xây ra. Ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt, người đó có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi đối với người có trách nhiệm với tài sản. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sẵn cũng có thể là lén lút, che giấu đối với người khác.
Ví dụ: Lợi dụng đêm tối, Ông Trần Văn Thanh đã mặc áo đen, đeo khẩu trang kín mặt vượt tường rào sang nhà Bà Nguyễn Thị Nga để trộm cắp chiếc xe máy Honda dựng ở sân nhà. Hành vi của Ông Thanh được xem là lén lút, lợi dụng trời tối và sự sơ hở để tiến hành hành vi trộm cắp tài sản.
Đối tượng của hành vi lén lút chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản phải là tài sản đang có người quản lý, có nghĩa: Đó là những tài sản đang nằm trong sự chỉ phối về mặt thực tế của người có trách nhiệm hoặc là tài sản đang còn trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản. Đây là dấu hiệu cho phép phân biệt giữa trộm cắp tài sản với hành vì chiếm giữ trái phép tài sản.
Cũng theo tình huống trên, thì tài sản chiếc xe máy Honda thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Bà Nguyễn Thị Nga. Nên hành vi của Ông Trần Văn Thanh thoả mãn dấu hiệu của hành vi trộm cắp tài sản.
Hành vi trộm cắp tài sản chỉ bị coi là tội phạm khi thoả mãn điều kiện được quy định cụ thể trong luật, thể hiện hành vi đó có tính nguy hiểm đáng kể của tội phạm. Theo Bộ luật hình sự năm 2015, những điều kiện đó là:
- Tài sản bị trộm cắp phải có giá trị 2.000.000 đồng trở lên; hoặc
- Chủ thể đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm; hoặc
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; hoặc
- Tài sản bị trộm cắp là phương tiện kiếm sống chính hoặc là di vật có giá đặc biệt về tinh thần của người bị hại.
Hình phạt được quy định cho tội trộm cắp có mức cao nhất là 20 năm tù. Xem phân tích chi tiết hình phạt tại: Tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật hình sự 2015
2. Tại sao trộm cắp tài sản trên 2 triệu bị khởi tố?
Pháp luật hình sự chỉ áp dụng với những hành vi có mức độ nguy hiểm đáng kể đối với xã hội. Trong các tội danh liên quan đến xâm phạm tài sản, giá trị tài sản bị thiệt hại là yếu tố chủ đạo để đánh giá mức độ nghiêm trọng của hành vi. Khi tài sản bị chiếm đoạt hoặc thiệt hại có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên, pháp luật xác định đây là mức độ thiệt hại có ảnh hưởng lớn, có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến đời sống hoặc hoạt động kinh doanh của cá nhân, tổ chức bị hại.
Nếu không có ngưỡng giá trị rõ ràng, hoặc nếu ngưỡng quá thấp, nhiều vụ việc có giá trị thiệt hại nhỏ sẽ bị khởi tố hình sự, khiến các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, và tòa án phải tập trung nguồn lực xử lý những vụ án nhỏ lẻ, dẫn đến tình trạng quá tải và làm chậm trễ xử lý các vụ án phức tạp, nghiêm trọng hơn. Việc tiến hành điều tra, truy tố, xét xử một vụ án hình sự đòi hỏi nhiều chi phí về nhân lực và vật lực. Tập trung nguồn lực này vào các vụ việc nghiêm trọng giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Lưu ý: Mức định khung 2.000.000 đồng có thể thay đổi khi mức thu nhập của người dân ngày một cao hơn. Ví dụ: Trước đây, BLHS năm 1999 chỉ quy định hành vi trộm cắp trên 500.000 đồng đã bị khởi tố. Nhưng đến năm 2015 thì mức này đã được nâng lên 2.000.000 đồng cho phù hợp với mức thu nhập chung của người dân.
3. Các ngưỡng giá trị tài sản và hình thức xử lý tương ứng
3.1. Phạt tiền hành vi trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng
Tại điểm a Khoản 1 và Điểm a Khoản 3 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định hình phạt tiền hành vi trộm cắp tài sản từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và hình thức xử phạt bổ sung tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm.
Như vậy, theo quy định trên người thực hiện hành vi trộm cắp với giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng. Ngoài ra, người thực hiện hành vi trôm cắp sẽ bị tịch thu tang vật thực hiện hành vi trộm cắp đấy.
3.2. Phạt tù hành vi trộm cắp tài sản từ 2 triệu đồng trở lên
Tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 quy định mức phạt tù thấp nhất với hành vi trộm cắp tài sản từ 02 triệu trở lên là bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (khoản 1), khung hình phạt cao nhất đối với hành vi này là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm (khoản 4).
Khung hình phạt đối với tội trộm cắp tăng dần theo giá trị tài sản trộm cắp. Luật Minh Khuê lập bảng khung hình phạt tội trộm cắp tài sản theo giá trị của tài sản qua bảng dưới đây:
| Khung hình phạt | Mức phạt | Hành vi |
| Khung 01 (Khung hình phạt cơ bản) | Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng - 03 năm | Trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 02 - dưới 50 triệu đồng. |
| Khung 02 (Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất) | Phạt tù từ 02 - 07 năm | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: + Có tính chất chuyên nghiệp; + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 - dưới 200 triệu đồng; + Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; + Hành hung để tẩu thoát; + Tài sản là bảo vật quốc gia. |
| Khung 03 (Khung hình phạt tăng nặng thứ hai) | Phạt tù từ 07 - 15 năm | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 - dưới 500 triệu đồng; + Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. |
| Khung 04 (Khung hình phạt tăng nặng thứ ba) | Phạt tù từ 12 - 20 năm | Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: + Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên; + Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. |
| Khoản 5 (Hình phạt bổ sung) | Bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. |
3.3. Những trường hợp đặc biệt trộm cắp dưới 2 triệu đồng vẫn phạm tội
Theo Khoản 1 Điều 173 Bộ Luật Hình sư năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; Tài sản là di vật, cổ vật.
Mục đích của việc quy định các trường hợp đặc biệt này là để tăng cường tính răn đe đối với hành vi phạm tội. Hình phạt này hướng đến những đối tượng thường xuyên có hành vi trộm cắp (đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về tội trộm cắp) và những hành vi trộm cắp vặt nhiều lần (Dưới 2 triệu) gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội hoặc hành vi trộm cắp xâm phạm đến những đối tượng yếu thế (lấy đi tài sản là phương tiện sinh sống chính của họ.
4. Cách xác định giá trị tài sản bị trộm cắp
Căn cứ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về tiến hành định giá tài sản do hội đồng định giá tài sản tiến hành thông qua phiên họp định giá tài sản. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có thể tham dự phiên họp định giá tài sản nhưng phải báo trước cho Hội đồng định giá tài sản biết và khi được sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản thì có quyền đưa ra ý kiến.
Cũng theo Điều 15 Nghị định 30/2018/NĐ-CP quy định về căn cứ định giá tài sản (không phải là hàng cấm) phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ sau:
- Giá thị trường của tài sản;
- Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định;
- Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;
- Giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá (nếu có);
- Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá.
Khoản 2, Điều 15 của Nghị định 30/2018/NĐ-CP quy định việc định giá tài sản là hàng cấm phải dựa trên ít nhất một trong các căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau:
- Giá mua bán thu thập được trên thị trường không chính thức tại thời điểm và tại nơi tài sản là hàng cấm được yêu cầu định giá hoặc tại địa phương khác;
- Giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu hàng cấm (nếu có);
- Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;
- Giá thị trường trong khu vực hoặc thế giới của hàng cấm do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông báo hoặc cung cấp thông tin;
- Giá niêm yết, giá ghi trên hợp đồng hoặc hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại Việt Nam;
- Giá thị trường trong khu vực và thế giới của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành, sử dụng tại các thị trường này;
- Các căn cứ khác giúp xác định giá trị của tài sản cần định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp và chịu trách nhiệm về tính chính xác, tin cậy của các căn cứ này.
Để xác định giá trị tài sản bị thiệt hại, Nghị định số 30/2018/NĐ-CP đã quy định việc định giá phải phù hợp với giá thị trường của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự với tài sản cần định giá tại thời điểm và nơi tài sản được yêu cầu định giá. Một trong các căn cứ định giá tài sản là giá thị trường của tài sản, có thể được xác định theo giá bán buôn, giá bán lẻ của tài sản cùng loại hoặc tài sản tương tự.
Mọi vướng mắc liên quan đến vấn đề trên Bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.