Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tên tôi là NV Tú. Tôi có việc muốn đề nghị dịch vụ và mong muốn được sự trợ giúp từ luật sư của Quý Công ty như sau:

Có một người phụ nữ uống rượu ngủ say nằm cạnh bờ rào, có 2 thanh niên đến định hiếp dâm, nhưng khi nhìn thấy dây truyền vàng trên cổ người phụ nữ đó, họ đã lấy dây truyền đó và bỏ đi, người phụ nữ đó vẫn ngủ. Khi tỉnh dậy mới biết bị mất dây truyền.

Hai thanh niên này phạm tội trộm cắp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản? Vì sao?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê . Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư

Người gửi: NV Tú

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn Luật Minh Khuê xin được trả lời bạn như sau:

1. Phân biệt

Tội trộm cắp tài sản và

Tội công nhiên chiếm đạt tài sản?

Trước tiên, để trả lời câu hỏi của bạn chúng ta cần phân biệt Tội trộm cắp tài sản với Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hai tội này có hai điểm khác biệt cơ bản sau:

Thứ nhất, về hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan của Tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của người khác; còn hành vi khách quan của Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai, ngang nhiên chiếm đoạt tài sản ngay trước sự chứng kiến của chủ tài sản.

Thứ hai, về nhận thức chủ quan của chủ tài sản: Ở Tội trộm cắp tài sản, người phạm tội đã sử dụng thủ đoạn "lén lút, bí mật" để chủ tài sản hoặc người khác không biết được hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng khả năng không cho phép chủ tài sản biết khi xảy ra hành vi phạm tội, trước khi xảy ra hành vi phạm tội thì tài sản vẫn đang trong sự kiểm soát của chủ tài sản nhưng khi xảy ra hành vi phạm tội chủ tài sản không hề biết tài sản của mình bị chiếm đoạt, chỉ sau khi mất tài sản chủ tài sản mới biết; còn ở Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, khi có hành vi chiếm đoạt tài sản chủ tài sản vẫn nhận biết được có hành vi chiếm đoạt nhưng do họ không có điều kiện bảo vệ tài sản của mình nên người phạm tội mới ngang nhiên chiếm đoạt tài sản mà không cần dùng bất kì thủ đoạn nào để đối phó với chủ tài sản.

2. Tội trộm cắp tài sản hay

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản?

Trong trường hợp của bạn, hai người thanh niên lợi dụng lúc người phụ nữ ngủ say mà ngang nhiên chiếm đoạt tài sản của người bị hại thì vẫn là trộm cắp tài sản bởi vì lúc đó người phụ nữ không nhận thức được sự việc diễn ra xung quanh mình, không biết tài sản của mình đang bị chiếm đoạt, do vậy đối với người phụ nữ thì hai người thanh niên vẫn là đang lén lút chiếm đoạt tài sản.

Tội trộm cắp tài sản được quy định cụ thể tại Điều 173 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Tài sản là bảo vật quốc gia;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Li dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Trân trọng!

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tên tôi là N.T.T. Tôi có việc muốn đề nghị dịch vụ và mong muốn được sự trợ giúp từ luật sư của Quý Công ty như sau:

>> Xem thêm:  Hướng dẫn cách thức trình báo công an khi bị mất trộm tài sản ? Mức phạt hành vi trộm cắp

Tôi có 1 người thân bị vu oan thành tôi trộm cắp, tôi xin trình bày sự việc như sau: Người thân của tôi làm osin cho 1 nhà chủ. Khi nhà chủ có mất 5 triệu đồng thì người chủ đó tố cáo là người thân tôi lấy và cho công an phường đến điều tra và đã kết luận là không trộm cắp rồi thả về.
Khi người thân tôi xin nghỉ vì quá bất mãn với người chủ, thì người chủ tạo hiện trường giả là bỏ túi xách vào đồ đạc của người thân tôi rồi cho công an tới điều tra, người thân tôi vẫn cương quyết là không có, nhưng vì người thân tôi tuổi tác đã cao học hành nông cạn nên bị công an dọa nạn ép cung để khai bậy, nhưng tôi đã can thiệp và đưa lên công an quận và công an quận cũng cương quyết ép tội vì nhiều lời khai giả không đúng với sự thật, hiện tại vụ án đang được công an mở rộng điều tra và khởi tố.
Tôi chấp nhận cho công an làm rõ sự việc vì 5 triệu đối với người thân tôi là 1 số tiền không lớn nếu như mình có ăn trộm thì mình sẽ giải quyết khôn ngoan là trả tiền và xin lỗi người mất nhưng người thân tôi 1 mực là không có nên tôi quyết định sẽ đấu tranh tới cùng để biết được sự việc rõ ràng và lấy lại danh dự cho người thân.Tôi mong anh chị ở đây ai đọc được tâm sự này và chia sẽ cho tôi thêm nhiều điều để tôi có thể đấu tranh cho người thân tôi ?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê . Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư.

Người gửi: N.T.T

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn Luật Minh Khuê xin được trả lời bạn như sau:

1. Tư vấn cách xử lý

khi bị chủ nhà vu oan tội trộm cắp?

>> Xem thêm:  Tư vấn cách xử lý khi bị vu oan tội trộm cắp tài sản ?

Như bạn đã trình bày thì người thân của bạn là người tuổi đã cao, cũng không còn sắc bén nên theo chúng tôi, nếu có thể bạn hãy đề nghị người thân của mình nhờ đến sự giúp đỡ về mặt pháp lý của một Luật sư hoặc một người nào đó có khả năng tiếp cận vấn đề nhanh nhạy hơn, cứng rắn hơn cũng như có hiểu biết pháp luật tốt hơn để bảo vệ cho người đó trong vụ án này.

Tuy nhiên để có được một kết quả điều tra đúng đắn nhất, người thân của bạn nên tận tình phối hợp với cơ quan điều tra, bên cạnh đó cũng không nên vì những hành vi sai trái từ cơ quan điều tra (ép cung, bức cung, đánh đập) mà buông xuôi, ngừng đấu tranh. Bởi việc điều tra sự thật của vụ án không chỉ của riêng cơ quan điều tra mà sau khi nhận bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát vẫn phải xem xét và cho đến khi ra Tòa, Tòa án cũng chỉ coi bản kết luận điều ra là một căn cứ để khởi tố chứ không phải là căn cứ để kết tội. Thậm chí, sau khi có bản án, quyết định của Tòa sơ thẩm, trong thời hạn cho phép, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án cấp trên trực tiếp để giải quyết. Trên thực tế có nhiều vụ án mà bị cáo được tuyên vô tội mặc dù bản điều tra kết luận có hành vi vi phạm.

2. Xử lý hình sự khi vu khống người khác?

Chúng tôi xin cung cấp cho bạn một vài thông tin: Nếu sự thực khách quan của vụ án được làm sáng tỏ - là có người đã bỏ tiền vào túi xách của người nhà của bạn và báo công an, người nhà của bạn hoàn toàn trong sạch thì bạn có thể kiện ngược lại, người kia có thể bị truy cứu về Tội vu khống người khác theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền nhng điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy d, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử đphạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tn thương cơ thể từ 31% đến 60%77;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên78;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

3. Xử lý dân sự khi vu khống ngươi khác?

Ngoài ra, Khoản 5 Điều 34 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại”.

Như vậy, việc ăn trộm không phải do người nhà của bạn thực hiện mà bị chủ nhà vu khống thì người vu khống không những phải chịu trách nhiệm hình sự mà còn phải công khai xin lỗi người nhà bạn, cải chính công khai cũng như bồi thường thiệt hại cho người nhà của bạn.

4 Trộm cắp tài khi là sản chung vợ chồng ?

Thưa luật sư, em bị trộm cậy tủ lấy 1 cây vàng 9999 vợ chồng em đã báo Công an sau khi công an kiểm tra hiện trường thì nói chỉ có người trong nhà và nghi ngờ cho em .Sau đó sáng ngày 10/10 thì phát hiện trộm đã bỏ lại 7 chỉ vàng trên sân nhà chú chồng em Công an tiếp tục điều tra và nghi cho em hơn nữa.

Chiều đó công an mời em xuống và nói nhưng điều bất lợi cho em. Em rất hoảng sợ và run, họ nói nếu có lỡ lấy thì họ sẽ sắp xếp mọi chuyện êm ả chỉ có họ biết và 2 vợ chồng biết thôi. Lúc đó em run và hoảng sợ vô cùng nên đã nhận là mình làm nhưng thực chất là em không lấy tài sản này. Lúc đó em chỉ nghĩ nhận cho mọi chuyện xong cho rồi cho im lặng thôi nhưng giờ em thấy hối hận vì mình đã nhận oan.

Vậy cho em hỏi em nhận tội vậy rồi sau này có bất lợi gì cho em không và em có phạm tội trộm cắp không tài sản đó là của chung 2 vợ chồng ?

Em xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời :

Như đã trình bày trước đó,Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ và thuộc một trong các trường hợp sau: tài sản trộm cắp có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặt đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm. Như vậy, để có thể truy cứu tội danh này thì cần phải có hai dấu hiệu: dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ.

Theo như nội dung mà bạn trình bày thì trường hợp của bạn cần xác định rõ số vàng đã mất là là tài sản chung vợ chồng, hay là tài sản riêng. Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung"

Như vậy, nếu như số vàng này là tài sản chung vợ chồng thì bạn cũng là người sở hữu số vàng này. Do vậy, nếu bạn đã nhận bạn là người lấy số vàng này đương nhiên Công an sẽ không truy cứu trách nhiệm hình sự, vì đây là tài sản chung vợ chồng, và việc bạn nhận là người lấy số vàng cũng không phạm tội trộm cắp tài sản.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6162 . Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Xe trộm cắp đem đi cầm cố chủ hộ kinh doanh đi tiêu thụ phải ngồi tù ?

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê