Khách hàng: Công ty TNHH K của chúng tôi có chức năng nhập khẩu các loại giấy in để cung cấp cho các công ty in trong nước. Ngày 1-2-2016 chúng tôi nhận được công văn của công ty TNHH in và thiết kế H (qua đường fax) yêu cầu cung cấp 250 tấn giấy in loại 1, quy cách in tạp chí, sản phẩm của Đài Loan, giá mua đề nghị là 1500 USD/tấn. Ngày 1-3-2016, địa điểm tại kho công ty H.
Vì vào thời điểm đó loại giấy công ty H yêu cầu không đủ nguồn cung nên công ty chúng tôi đã gửi công văn trả lời (qua đường fax) đề nghị số lượng mua bán là 200 tấn, các yêu cầu khác không thay đổi. Sau khi nhận được công văn của chúng tôi công ty H đã có văn bản trả lời là đồng ý. Tuy nhiên, vào gần ngày giao hàng thì lượng giấy mà công ty H yêu cầu trở lên dồi dào nên chúng tôi đã gửi tiếp văn bản thứ 2 cho công ty H thông báo sẽ giao đủ 250 tấn giấy. Ngày 1-3-2016 đoàn xe công ty chúng tôi đến kho của công ty H thì công ty H trả lời không nhận hàng với lý do công ty không đồng ý với đề nghị thay đổi số lượng giấy mua bán từ 200 tấn lên 250 tấn. Do không chuyển hàng và kho nên chiều ngày 1-3-2016 mưa lớn đã làm hư hỏng 100 tấn giấy.
Xin hỏi, công ty H có phải chịu trách nhiệm về thiệt hại này không? Chúng tôi phải làm gì để bảo vệ lợi ích của mình.
Cảm ơn!
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162
Trả lời:
1. Hoạt động thương mại được hiểu như thế nào ?
Theo Khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 quy định:
“Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Theo đó, có hai lĩnh vực chủ yếu là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ.
+ Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận
+ Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Căn cứ khoản 15, Điều 3 và khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại số 36/2005/QH10 ngày 14/6/2005 của Quốc hội quy định về hoạt động thương mại:
“Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.”
Hợp đồng mua bán là sự thoả thuận giữa các đương sự được thực hiện trên cơ sở bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương nhưng phải đảm bảo có các nội dung chủ yếu mà luật pháp đã quy định. Do đó Công ty có thể sử dụng bản fax là hình thức khác của hợp đồng mua bán. Hợp đồng fax là hợp đồng hợp pháp và có giá trị tương đương với văn bản.
2. Đặc điểm của hoạt động thương mại
– Chủ thể: Các thương nhân, trong hoạt động thương mại sẽ có ít nhất một bên là thương nhân, người thực hiện các hoạt động kinh doanh thương mại có tính chất nghề nghiệp.
Theo quy định tại điều 6 Luật thương mại thì thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
– Mục đích của hoạt động thương mại là lợi nhuận.
– Nội dung của hoạt động thương mại: 2 nhóm hoạt động cơ bản là mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ (thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ). Bên cạnh đó, có các hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận cũng là những hoạt động thương mại.
3. Giao kết hợp đồng thương mại, dân sự
Theo điều 386, 393, 400 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 386. Đề nghị giao kết hợp đồng
1. Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đề nghị).
2. Trường hợp đề nghị giao kết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với người thứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bên được đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh.
Điều 393. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị.
2. Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên.
Điều 400. Thời điểm giao kết hợp đồng
1. Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó.
3. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.
4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản.
Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này.
=> Như vậy: Theo như thông tin bạn đưa ra, công ty bạn không chấp nhận với đề xuất của công ty H gửi qua fax vào ngày 1-2-2016. Sau đó bạn đã gửi công văn (qua đường fax) đề nghị số lượng mua bán là 200 tấn, các yêu cầu khác không thay đổi. Sau đó, công ty H đã có văn bản trả lời là đồng ý.
Như vậy theo quy định của Bộ luật dân sự được coi là công ty bạn đã đề nghị giao kết hợp đồng mới với công ty H và được công ty H chấp nhận. Do đó, công ty bạn và công ty H đã xác lập giao dịch mua bán với nội dung mà công ty bạn đã đề nghị.
Sau đó, công ty bạn gửi tiếp văn bản thứ 2 cho công ty H thông báo sẽ giao đủ 250 tấn giấy. Đây được coi là đề nghị giao kết hợp đồng mới của công ty bạn cho công ty H nên để đề nghị này phát sinh hiệu lực thì công ty H phải chấp nhận đề nghị này của công ty bạn. Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, công ty bạn đơn phương đưa ra đề nghị giao kết mà không được sự chấp nhận của công ty H. Do đó văn bản thứ 2 này của bạn không phát sinh hiệu lực.
=> Vì vậy, rủi ro với số lượng hàng hóa mà bạn giao thừa nằm ngoài thỏa thuận giao dịch giữa 2 công ty ( 50 tấn giấy) sẽ do công ty bạn chịu trách nhiệm.
4. Thỏa thuận phạt vi phạm và bồi thường do vi phạm hợp đồng
Thứ nhất, về sự thỏa thuận phạt vi phạm được quy định tại Điều 418 Bộ luật dân sự năm 2015
- Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
- Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
- Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.
Thứ hai, về bồi thường do vi phạm hợp đồng được quy định tại Điều 419 như sau:
- Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
- Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
- Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.
5. Căn cứ xác định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015:
“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.
Mặt khác, Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba Bộ luật dân sự “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
=> Như vậy, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Qua nghiên cứu có thể thấy, Bộ luật dân sự năm 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho bên bị thiệt hại.
Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh khi có các điều kiện:
Một là: Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần.
Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định.
Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Hai là: Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Ba là: Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên. Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật doanh nghiệp trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.