Mục lục bài viết

Trong quá trình kinh doanh do thiếu vốn nên tôi tiếp tục cho vay thêm 1 tỷ VNĐ nữa nhưng không có giấy tờ công chứng . Sau 1 thời gian kinh doanh bên kia họ kinh doanh không có lãi họ không chia lãi với tôi và họ nói giờ họ mất hết số tiền tôi cho vay, do công việc kinh doanh không thuận lợi. Chúng tôi có ngồi lại với nhau và chốt với nhau số nợ trong đó có khoảng 2 tỷ tiền gốc và khoảng 200 triệu tiên lãi, chỉ viết tay không công chứng, có chữ kí của 2 vợ chồng người nợ. Sau đó chúng tôi yêu cầu bên nợ phải trả chúng tôi tiền lãi hàng tháng theo lãi ngân hàng . Nhưng đến nay bên người nợ họ vẫn đang kinh doanh công việc đó nhưng không trả tiền theo thoả thuận . Tôi muốn nhờ công ty tư vấn cho tôi là số tiền hơn 2 tỷ VNĐ đó là giấy viết tay thì có hiệu lực trước pháp luật hay không( trong đó có 1 tỷ có công chứng). Nếu khởi kiện khả năng thắng kiện là bao nhiêu phần trăm. Nếu biết rằng bên kia họ đã sử dụng số vốn trên để trả nợ cho bên thứ 3 và thực tế họ vẫn kinh doanh .

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty luật Minh Khuê.

Giấy tờ trong hợp đồng vay nợ không công chứng được không?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi:   1900.6162

Nội dung trả lời

Trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Công ty chúng tôi.  Vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Hình sự 1999

Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, hiệu lực của giấy viết tay khi không công chứng khi cho vay.

Theo Điều 401 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hình thức hợp đồng:

"Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự

1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác".

 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Mà ở đây, giấy viết nợ lần sau đã có chữ ký của hai vợ chồng người nợ. 

Bên cạnh đó, theo Điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định".

Như vấy, giấy viết nợ trên vẫn có giá trị về mặt pháp lý.

Thứ hai, trách nhiệm của bên nợ.

Theo Điều 474 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Lãi suất cho vay trong trường hợp của bạn trong hợp đồng tính lãi theo lãi ngân hàng nhưng trên thực tế thoả thuận là dựa theo lãi của công việc kinh doanh. Áp dụng theo Điều 476 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Ngoài ra theo Khoản 2 Điều 478 Bộ luật dân sự 2005:

"2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác".

Lưu ý, bên kia họ đã sử dụng số vốn trên để trả nợ cho bên thứ ba và thực tế họ vẫn kinh doanh. Như vậy, có sự vi phạm trong việc sử dụng tài sản vay. Áp dụng theo Điều 475 Bộ luật dân sự 2005:

"Điều 475. Sử dụng tài sản vay

Các bên có thể thoả thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay; bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn, nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích".

Theo đó, người nợ sẽ phải chịu trách nhiệm do hành vi của mình. Cụ thể:

Theo Khoản 1 Điều 302 Bộ luật dân sự 2005 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự  

"1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền".

Theo Khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005:

"2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác".

 Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Khoản 2 Điều 307 Bộ luật dân sự 2005:  

"2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút".

Hai bên có ngồi lại với nhau và chốt với nhau số nợ trong đó có khoảng 2 tỷ tiền gốc và khoảng 200 triệu tiên lãi, chỉ viết tay không công chứng, có chữ kí của 2 vợ chồng người nợ. Có yêu cầu bên nợ phải trả chúng tôi tiền lãi hàng tháng theo lãi ngân hàng . Nhưng đến nay bên người nợ họ vẫn đang kinh doanh công việc đó nhưng không trả tiền theo thoả thuận. Nếu có ý định trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ Bên kia có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này".

Như vậy, bạn có đủ căn cư tiến hành khởi kiện bên kia để đòi lại tài sản của mình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của Công ty chúng tôi, hy vọng chúng tôi đã giải đáp được vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn tin tưởng sử dụng dịch vụ của Công ty chúng tôi.

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn luật Dân sự.