Quyền được bảo vệ về tín mạng, sức khỏe là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ. Theo đó, hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Góc nhìn khi phân tích tội bức tử theo quy định mới?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

1. Khái niệm bức tử

Quyền được bảo vệ về tín mạng, sức khỏe là quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ. Theo đó, hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tội bức tử xâm phạm trực tiếp xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự người khác, đống thời gián tiếp xâm phạm quyền sống của người đó. Theo đó, bức tử được hiểu là hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm cho người đó tự sát. Trong đó, nạn nhân là người bị lệ thuộc đối với người có hành vi phạm tội về một hoặc nhiều mặt như lệ thuộc kinh tế, về công tác, lệ thuộc về tôn giáo hoặc về các mặt khác.
Bức tử là hành vi đối xử tàn ác thường xuyên ức hiếp ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm cho người đó tự sát.

2. Tội bức tử quy định trong Bộ Luật hình sự mới?

Theo quy định tại Điều 130 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 được quy định như sau:
Điều 130. Tội bức tử
1. Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đoi với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai.

3. Bình luân về tội bức tử

Điều luật gồm 2 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội bức tử; khoản 2 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng.

3.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội này được quy định là người có quan hệ lệ thuộc nhất định với nạn nhân. Trong đó, nạn nhân là người bị lệ thuộc vào người phạm tội như lệ thuộc về kinh tể, bị ràng buộc về quan hệ hôn nhân, gia đình, quan hệ công tác hay quan hệ tín ngưỡng...
Theo Điều 12 BLHS, chủ thể của tội bức tử là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

3.2 Mặt khách quan

+ Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau đây:
a) Về hành vi. Có một trong các hành vi sau:
Có hành vi đối xử tàn ác đối với người lệ thuộc mình: như thường xuyên đánh đập, bắt nhịn ăn, giam cầm, bắt lao động nặng nhọc và không cho ăn uống… làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể chất nhưng chưa đến mức gây thương tích hoặc gây tổn hại đáng kể cho sức khoẻ của nạn nhân.
Có hành vi thường xuyên ức hiếp người lệ thuộc mình: Thể hiện qua việc xử sự không công bằng, xâm phạm đến các quyền, lợi ích hợp pháp của nạn nhân… hành vi này thường kéo dài và lặp đi lặp lại.
Có hành vi ngược đãi người lệ thuộc mình: Thể hiện qua việc đối xử tồi tệ với nạn nhân về các mặt ăn, mặc, ở và các sinh hoạt hàng ngày khác (như cho mặc rách rưới, cho ở những nơi tăm tối, bẩn thỉu, cho ăn cơm thừa, canh cặn…) một cách thường xuyên trong khi có đầy đủ các điều kiện tốt.
Có hành vi làm nhục người bị lệ thuộc: Được hiểu là hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của nạn nhân như chửi bới thậm tệ, bôi nhọ danh dự, nhạo báng, miệt thị, lột truồng hoặc những hành vi bỉ ổi khác.
b) Về hậu quả: Các hành vi nêu trên dẫn đến hậu quả là nạn nhân (tức người bị đối xử tàn ác, thường xuyên bị ức hiếp, bị ngược đãi hoặc bị làm nhục) tự làm chấm dứt cuộc sống của chính mình.
Nói một cách khác những hành vi đó đã gây ức chế về tâm lý đối vối nạn nhân, làm cho nạn nhân bị khủng hoảng tinh thần, bị tuyệt vọng không còn niềm tin vào cuộc sống nên đã hành động kết liễu cuộc đòi sống của chính mình.
Lưu ý:
Nạn nhân là người bị lệ thuộc đốì với người có hành vi phạm tội về một hoặc nhiều mặt như lệ thuộc kinh tế, về công tác, lệ thuộc về tôn giáo hoặc về các mặt khác cụ thể là:
Lệ thuộc về kinh tế: Thể hiện qua việc nạn nhân phải phụ thuộc vào người phạm tội về việc được cung cấp cho các nhu cầu ăn, mặc, ỏ hoặc các điều kiện vật chất khác để duy trì cuộc sống của bản thân hoặc gia đình.
Lệ thuộc về công tác: Thể hiện qua việc nạn nhân phải chịu ảnh hưởng và tác động của người khác trong quan hệ công tác trong các cơ quan, tổ chức (như chịu ảnh hưởng của thủ trưởng, của giám đốc, của cấp trên…)
Lệ thuộc về tôn giáo như: Tín đồ đối với người có chức sắc trong tôn giáo…
Lệ thuộc về các mặt khác như: Bệnh nhân đôi với thầy thuốc, học sinh đối với thầy cô giáo…
Tội phạm hoàn thành khi nạn nhân thực hiện hành vi tự sát. Việc nạn nhân chết hay được cứu sống không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ có ý nghĩa trong lượng hình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nếu nạn nhân không bị chết thì ít bị truy cứu trách nhiệm hình sự (trừ trường hợp hành vi đối xử quá tàn ác, quá ức hiếp, quá ngược đãi bị xã hội lên án) hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm về một tội khác như tội hành hạ người khác; tội làm nhục người khác, tội ngược đãi hành hạ ông bà cha mẹ, vợ chồng, con cháu người có công nuôi dưỡng mình.

Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan được quy định là một trong những hành vi sau:

+ Đối xử tàn ác với nạn nhân như đánh đập, bỏ đói, bỏ rét...;
+ Thường xuyên ức hiếp: Đây là trường hợp người phạm tội đã thường xuyên có hành vi đối xử bất công, bất bình đẳng đối với nạn nhân.
+ Thường xuyên ngược đãi nạn nhân: Đây là trường hợp người phạm tội đã thường xuyên có hành vi đối xử tàn nhẫn, tồi tệ người lệ thuộc mình, trái với luân lý, đạo đức.
+ Làm nhục nạn nhân: Đây là hành vi làm tổn hại nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của nạn nhân.
Dấu hiệu hậu quả của tội phạm
Hậu quả của tội phạm được quy định là việc tự sát. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi khách quan được nêu trên. Chủ thể thực hiện hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, thường xuyên ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nạn nhân tự sát khi giữa hành vi của họ và việc tự sát này có QHNQ với nhau. Do bị đối xử tàn ác hay do bị ức hiếp hay do bị ngược đãi hay do bị làm nhục mà nạn nhân có hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình. Ở đây, cần chủý: Điều luật chỉ đòi hỏi hành vi khách quan dẫn đến xử sự tự sát, mà không đòi hỏi hậu quả nạn nhân chết do tự sát.
Dấu hiệu lỗi của chủ thể
Đối với hành vi được điều luật quy định, lỗi của chủ thể thực hiện hành vi này là lỗi cố ý, còn đối với hậu quả tự sát, lỗi được thừa nhận là lỗi cố ý gián tiếp hoặc là lỗi vô ý. Trong đó, trường hợp có lỗi cố ý gián tiếp là trường hợp người phạm tội thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến việc tự sát của nạn nhân, tuy không mong muốn việc đó nhưng có ý thức bỏ mặc, chấp nhận việc đó (nếu xảy ra). Trái lại, trường họp có lỗi vô ý vì quá tự tin là trường họp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến việc tự sát của nạn nhân nhưng đã quá tin rằng việc đó sẽ không xảy ra.
Nếu người phạm tội mong muốn nạn nhân tự sát khi thực hiện hành vi của mình thì hành vi của họ không còn là bức tử mà là hành vi giết người (Điều 123 BLHS) với thủ đoạn đặc biệt.
Tội bức tử có mối quan hệ với tội hành hạ người khác (Điều 140 BLHS). Tội bức tử có thể được coi là một trường hợp đặc biệt của tội hành hạ người khác - Trường họp đã gây ra hậu quả tự sát của nạn nhân.
Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 05 năm đến 12 năm được áp dụng cho trường họp có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Làm 02 người tự sát trở lên: Đây là trường hợp phạm tội có nhiêu nạn nhân đã thực hiện việc tự sát, xảy ra do cùng hoặc do các hành vi phạm tội khác nhau.
- Nạn nhân là người dưới 16 tuổi hoặc là phụ nữ mà biết là có thai: Đây là trường họp phạm tội mà nạn nhân là đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt hơn. Đó là người dưới 16 tuổi và phụ nữ có thai. Theo điều luật, chủ thể phải biết việc có thai của nạn nhân.

3.3 Khách thể:

Ngoài việc xâm phạm đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân, hành vi nêu trên còn (gián tiếp) xâm phạm đến tính mạng của người khác.

3.4 Mặt chủ quan:

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi vô ý hoặc cố ý gián tiếp.

4. Ví dụ

Ngày 123x tại nhà riêng, A chửi, dùng chân, tay đấm, đá vào người của chị B, vừa đánh vừa chửi. Do bị chửi, đánh và không phản kháng được, chị B lấy 01 (một) bình thuốc diệt cỏ, vặn nắp định uống, thấy thế A tiếp tục chửi, đánh B và nói "mày lấy về rồi còn chưa uống à, mày uống thì uống cho hết đi, không tao bón cho, thà để cho tao đánh chết còn hơn". Thấy A chửi và đánh đập như vậy B tự cầm lọ thuốc diệt cỏ rồi uống. Sau khi uống thuốc diệt cỏ A có biểu hiện nôn mửa, A nói "uống ít thế không sao đâu" và liên tục chửi, đánh B . Do uống thuốc diệt cỏ nên sau đó chị B chỉ nằm một chỗ, bụng chướng lên. Ngày 123Y tình hình sức khỏe của B xấu đi, A gọi điện thoại cho T (em trai của B) đến và cùng đưa B ra Trạm y tế xã Z. Sau đó, B được đưa đến Bệnh viện Đa khoa huyện F, tỉnh để cấp cứu B tử vong.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự là như thế nào?

Trả lời:

Cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp và thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự theo quy định của Luật này.

Câu hỏi: Giám sát việc thi hành án hình sự là như thế nào?

Trả lời:

Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Kiểm sát việc thi hành án hình sự là như thế nào?

Trả lời:

Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự.