1. Hai "Hiệp sỹ đường phố" có được công nhận Liệt sỹ không ?

Luật sư tư vấn:
Trước đó, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/5, nhóm "hiệp sĩ đường phố Tân Bình" bắt quả tang một nhóm bốn đối tượng đang trộm một xe máy SH trên đường Cách Mạng Tháng Tám (đoạn phường 10, Quận 3). Ngay lập tức nhóm "hiệp sĩ" đã tổ chức vây bắt nhưng các đối tượng trộm xe nhanh chóng lên xe máy thoát thân. Rượt đuổi vài trăm mét, nhóm "hiệp sĩ" đã đuổi kịp các đối tượng.
3. Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
Như vậy, tuy không quy định cụ thể nhưng nhà nước cũng đã công nhận việc phòng chống tội phạm là nghĩa vụ của mọi công dân. Do đó, việc làm của các hiệp sĩ không vi phạm quy định pháp luật, phù hợp với chuẩn mực chung.
Điểm đ, điểm e, điều 11 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 quy định:
1. Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây:
đ) Đấu tranh chống tội phạm;
e) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
Đồng thời, điểm d,điểm đ, điểm e, Điều 17, Nghị định 31/2013/NĐ-CP quy định:
Điều 17. Điều kiện xác nhận liệt sĩ
1. Người hy sinh thuộc một trong các trường hợp sau được xem xét xác nhận là liệt sĩ:
d) Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự;
đ) Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh;
e) Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;
Như vậy, theo căn cứ trên và các tình tiết của vụ án, thì hai "hiệp sỹ" rất có thể sẽ được phong Liệt sỹ theo các đặc điểm sau: Trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự, Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh, Dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
2. "Hiệp sĩ đường phố": Tự phát và trái pháp luật?
Luật sư tư vấn:
Về việc bắt giữ người phạm tội, căn cứ khoản 2, điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm:
2. Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Người đang thực hiện hành vi phạm tội, hoặc ngay sau khi phạm tội mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt (gọi là bắt người phạm tội quả tang) thì bất kỳ ai cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất. Khi bắt người phạm tội quả tang, mọi người đều có quyền tước vũ khí, hung khí của đối tượng bị bắt. Người đang bị truy nã mà bị phát hiện thì mọi công dân đều có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất; cũng như được quyền tước vũ khí, hung khí của đối tượng này.
Về việc thành lập những nhóm "hiệp sĩ", cần phải có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để tránh việc thành lập tự phát, gây mất ổn định địa phương. Khi hoạt động nên có sự giám sát của lực lượng chức năng để việc đảm bảo các tình huống xử lý đúng pháp luật.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về việc bắt giữ người trái luật, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
3. Các "hiệp sĩ đường phố" bắt người liệu có đúng pháp luật ?

Trả lời:
Về việc bắt giữ người phạm tội, căn cứ khoản 2, điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm:
2. Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Người đang thực hiện hành vi phạm tội, hoặc ngay sau khi phạm tội mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt (gọi là bắt người phạm tội quả tang) thì bất kỳ ai cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất. Khi bắt người phạm tội quả tang, mọi người đều có quyền tước vũ khí, hung khí của đối tượng bị bắt. Người đang bị truy nã mà bị phát hiện thì mọi công dân đều có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan công an, viện kiểm sát hoặc UBND nơi gần nhất; cũng như được quyền tước vũ khí, hung khí của đối tượng này.
Về việc thành lập những nhóm "hiệp sĩ", cần phải có sự quản lý chặt chẽ của cơ quan có thẩm quyền tại địa phương để tránh việc thành lập tự phát, gây mất ổn định địa phương. Khi hoạt động nên có sự giám sát của lực lượng chức năng để việc đảm bảo các tình huống xử lý đúng pháp luật.
4. Ưu đãi xã hội là gì?
Ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng xã hội đối với người có công với cách mạng và thân nhân của họ nhằm ghi nhớ công ơn của họ đối với đất nước. Ưu đãi xã hội là sự thể hiện truyền thống ” đền ơn đáp nghĩa “, là sự sự báo đáp công ơn những người xả thân vì đất nước vì dân tộc. Chế độ ưu đãi xã hội không chỉ góp phần nâng cao đời sống vật chất cho những người có công mà còn giúp họ hòa đồng vào xã hội.
Ưu đãi xã hội nhằm đảm bảo cho 2 nhóm người chủ yếu: Nhóm những người đã có công sức đóng góp cho vận mệnh của đất nước, công cuộc cách mạng của dân tộc bao gồm: những người đã gắn bó cả cuộc đời của mình với sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp của cộng đồng; những người gặp rủi ro trong quá trình hoạt động cho sự nghiệp chung của cộng đồng.
Ưu đãi xã hội đối với người có công bước đầu đã bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, công bằng xã hội. Người có công được chăm lo, đền đáp, đền ơn trả nghĩa, người cống hiến hy sinh nhiều được chăm lo ưu đãi nhiều hơn. Họ được ưu tiên, ưu đãi trong giáo dục, đào tạo, giải quyết việc làm ngoài ra những trường hợp như thương binh nặng, thân nhân liệt sỹ, bà mẹ Việt Nam anh hùng được ưu tiên về nhà ở, đất ở, được chăm lo, phụng dưỡng về vật chất và tinh thần của địa phương và các đoàn thể xã hội.
Các hình thức ưu đãi xã hội:
- Bằng tiền mặt vật chất: Tiền có thể hưởng trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, mai táng phí khi chết, chi phí y tế; hiện vật là xây dựng các nhà tình nghĩa hay tặng quà vào dịp lễ tết...
- Bằng hình thức khác nhau như: Hỗ trợ học phí cho con em họ, nghỉ dưỡng, miễn giảm thuế. Tất cả những hình thức này đảm bảo đời sống vật chất cho người có công.
- Bằng tinh thần: Bằng khen, huân huy chương, dựng tượng đài, ưu tiên con em gia đình tròn vấn đề việc làm.
5. Các chế độ ưu đãi cơ bản đối với thương binh?
Các chế độ ưu đãi đối với thương binh bao gồm:
– Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh;
– Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào thương tật của từng người và khả năng của Nhà nước;
– Điều dưỡng phục hồi sức khỏe hai năm một lần; trường hợp thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được dưỡng phục hồi sức khỏe hàng năm;
– Được hưởng chế độ ưu tiên, hỗ trợ quy định tại khoản 5 Điều 4 của Pháp lệnh này; căn cứ vào thương tật và trình độ nghề nghiệp được tạo điều kiện làm việc trong cơ quan nhà nước, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về lao động;
– Ưu tiên giao hoặc thuê đất, mặt nước, mặt nước biển, vay vốn ưu đãi để sản xuất, được miễn hoặc giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ về nhà ở quy định tại khoản 4 Điều 4 của Pháp lệnh này.
Chế độ ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ bao gồm:
- Trợ cấp tiền tuất một lần khi báo tử;
- Trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo các mức thân nhân của một liệt sĩ, thân nhân của hai liệt sĩ, thân nhân của ba liệt sĩ trở lên đối với cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con liệt sĩ dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hoặc bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng.
Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ, vợ hoặc chồng liệt sĩ cô đơn không nơi nương tựa, con liệt sĩ mồ côi cả cha mẹ quy định tại điểm này thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng;
Thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” bao gồm:
- Cha đẻ, mẹ đẻ;
- Vợ hoặc chồng;
- Con;
- Người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê