1. Thế nào là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.Khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sự 2015.

Theo quy định đã liệt kê những trường hợp bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đây là những quy định đã được ghi nhận lần đầu tiên theo các BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 và tiếp tục được kế thừa theo quy định tại Điều 24 của BLDS năm 2015 nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người tàn tật, khuyết tật, già yếu... Theo đó, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự là những người nghiện ma tuý hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình. Tuy nhiên, họ không đương nhiên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; Chỉ khi nào Toà án ra quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan thì người đó mới bị coi là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

2. Thẩm quyền tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân.

Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

....

Theo Bộ luật dân sự 2015:

"... theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự." Khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sự 2015.

3. Ai có quyền yêu cầu tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự?

Theo Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì những người sau đấy có quyền yêu cầu tuyền tố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Điều 376. Quyền yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của Bộ luật dân sự.

Như vậy, quy định trên đã nêu cụ thể những chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

4. Người đại diện của người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Theo khoản 1 Điều 24 Bộ luật dân sự 2015:

>> Xem thêm:  Xã hội hoá thi hành án dân sự là gì ? Nguyên tắc của luật thi hành án dân sự

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

Trong quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải xác định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện (Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Theo Điều 135 , Điều 136 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 135. Căn cứ xác lập quyền đại diện

Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật).

Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Ngoài việc xác định người đại diện thì Tòa án phải các định phạm vi đại diện cho người này. Trong giao dịch dân sự, chúng ta thường xuyên phải vận dụng cơ chế đại diện, tức là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch với người thứ ba. Khi giao dịch được xác lập, thực hiện phù hợp với phạm vi đại diện thì người được đại diện chịu sự ràng buộc của giao dịch. Ngược lại, nếu giao dịch được xác lập, thực hiện ngoài phạm vi đại diện thì, về nguyên tắc, người được đại diện không chịu ràng buộc bởi giao dịch được xác lập, thực hiện trên danh nghĩa của họ. Chính vì vậy, việc xác định phạm vi đại diện của người đại diện rất quan trọng.

Theo Điều 141 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 141. Phạm vi đại diện

1. Người đại diện chỉ được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện theo căn cứ sau đây:

a) Quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

b) Điều lệ của pháp nhân;

c) Nội dung ủy quyền;

d) Quy định khác của pháp luật.

2. Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Một cá nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân hoặc pháp nhân khác nhau nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Người đại diện phải thông báo cho bên giao dịch biết về phạm vi đại diện của mình.

5. Giao dịch dân sự liên quan đến người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Khoản 2 Điều 24 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

“Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác”.

Khi một người đã bị Toà án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý nhất định. Theo đó, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi tham gia hoặc xác lập giao dịch dân sự là những quan hệ tài sản có giá trị lớn, nhất thiết phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật mới có giá trị pháp lý. Để tạo thuận lợi cho những người này trong cuộc sống, sinh hoạt, khoản 2 Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép họ có thể tham gia những giao dịch mà giá trị tài sản không lớn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác. Một số giao dịch dân sự nhằm mục đích phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày như các giao dịch trong ăn uống, học tập, sinh hoạt, đi lại....

Khi người đại diện của người hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện xác lập các giao dịch với người thứ ba thù sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người này.

Điều 139. Hậu quả pháp lý của hành vi đại diện (Bộ luật dân sự 2015)

1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện với người thứ ba phù hợp với phạm vi đại diện làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.

2. Người đại diện có quyền xác lập, thực hiện hành vi cần thiết để đạt được mục đích của việc đại diện.

3. Trường hợp người đại diện biết hoặc phải biết việc xác lập hành vi đại diện là do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, bị đe dọa, cưỡng ép mà vẫn xác lập, thực hiện hành vi thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ trường hợp người được đại diện biết hoặc phải biết về việc này mà không phản đối.

"Thời hạn đại diện sẽ được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật." (Điều 140 Bộ luật dân sự 2015).

>> Xem thêm:  Thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

6. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Khoản 3 Điều 24 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan,Tòa án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự”.

Như vậy, theo luật định, việc hạn chế năng lực hành vi dân sự đối với một chủ thể chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Khi không còn căn cứ để coi người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan tổ chức hữu quan, Toà án sẽ ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự cho người đó. Khi quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của người đó lại được khôi phục như trước khi bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

Điều 379. Quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Khi người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không còn ở trong tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Điều 380. Quyết định của Tòa án trong trường hợp chấp nhận yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề hạn chế năng lực hành vi dân sự. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xác định năng lực hành vi dân sự của các nhân ? Mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Đại diện theo ủy quyền chấm dứt khi nào?

Trả lời:

Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau đây:

a) Theo thỏa thuận;

b) Thời hạn ủy quyền đã hết;

c) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành;

d) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền;

đ) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

e) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật này;

g) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được.

Câu hỏi: Khi nào thì đại diện theo pháp luật chấm dứt?

Trả lời:

Đại diện theo pháp luật chấm dứt trong trường hợp sau đây:

a) Người được đại diện là cá nhân đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được khôi phục;

b) Người được đại diện là cá nhân chết;

c) Người được đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại;

d) Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan.

Câu hỏi: Trường hợp không xác định được phạm vi đạo diện thì phải làm thế nào?

Trả lời:

Khoản 2 Điều 141 Bộ luật dân sự 2015:

Trường hợp không xác định được cụ thể phạm vi đại diện theo quy định tại khoản 1 Điều này thì người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.