1. Khái niệm hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu:

Hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu là những mặt hàng được chuyển nhập vào lãnh thổ Việt Nam qua các cửa khẩu quốc tế điều này được thực hiện dưới sự quản lý và kiểm soát của các cơ quan hải quan theo các quy định của pháp luật. Mục đích chính của việc nhập khẩu này có thể là để sử dụng trong quá trình sản xuất, gia công hoặc chế biến tại Việt Nam, trước khi sản phẩm được xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Điều này thường được thực hiện dưới các chế độ hải quan nhất định như khu vực kinh tế đặc biệt, khu công nghiệp hoặc khu chế xuất. Mục tiêu của quá trình này là nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh quốc tế đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế của đất nước thông qua việc tăng cường xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.

Các hình thức chuyển khẩu hàng hóa:

- Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không thông qua cửa khẩu Việt Nam

- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;

- Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hóa tại các cảng Việt Nam không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

Thương nhân kinh doanh phải tuân thủ các quy định liên quan đến việc chuyển khẩu hàng hóa đặc biệt là những hàng hóa nằm trong danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc những hàng hóa tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu cũng như hàng hóa chưa được phép lưu hành hoặc sử dụng tại Việt Nam. Nếu hàng hóa thuộc diện quản lý bằng các biện pháp như hạn ngạch xuất khẩu, hạn ngạch nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan, giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu, thương nhân phải có giấy phép chuyển khẩu hàng hóa trừ trường hợp việc chuyển khẩu không thông qua cửa khẩu Việt Nam. Thương nhân chỉ được thực hiện thủ tục chuyển khẩu tại cơ quan hải quan cửa khẩu đối với những hàng hóa không nằm trong phạm vi quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật quản lý ngoại thương số 05 năm 2017 của Quốc hội 14. Các hàng hóa được chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam sẽ phải chịu sự giám sát của cơ quan hải quan cho đến khi chúng thực sự được xuất khẩu ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

 

2. Quy định về thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu:

Dựa theo quy định tại Khoản 20 Điều 4 Thông tư 219 năm 2013 Thông tư của Bộ Tài chính quy định về những trường hợp không chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm một loạt các đối tượng và hoạt động như sau:

- Hàng hóa chuyển khẩu hoặc quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam.

- Hàng tạm nhập khẩu và tái xuất khẩu

- Hàng tạm xuất khẩu và tái nhập khẩu

- Nguyên liệu và vật tư nhập khẩu để sản xuất và gia công hàng hóa xuất khẩu theo hợp đồng sản xuất hoặc gia công xuất khẩu ký kết với bên nước ngoài.

- Hàng hóa và dịch vụ được mua bán giữa nước ngoài với các khu phi thuế quan cũng như giữa các khu phi thuế quan với nhau.

Khu phi thuế quan bao gồm nhiều loại gồm khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập và được hưởng các ưu đãi về thuế như khu phi thuế quan theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Quan hệ mau bán và trao đổi hàng hóa giữa các khu phi thuế quan này với bên ngoài được xem xét là quan hệ xuất khẩu hoặc nhập khẩu.

Việc xác định và xử lý không thu thuế giá trị gia tăng trong các trường hợp này sẽ tuân theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan cũng như việc quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.

Theo đó, hàng hóa chuyển khẩu là đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định.

 

3. Hóa đơn đối với hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu:

Căn cứ theo quy định của pháp luật tại Điều 4 Nghị định số 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ về quản lý hóa đơn và chứng từ thì các nguyên tắc liên quan đến việc lập, quản lý và sử dụng hóa đơn và chứng từ được quy định như sau:

- Trước tiên, khi tiến hành bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ thì người bán phải tạo ra hóa đơn để giao cho người mua. Điều này bao gồm tất cả các trường hợp từ việc tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua các chương trình khuyến mại, quảng cáo đến việc cung cấp hàng mẫu cũng như các trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ được sử dụng cho mục đích biếu tặng, đổi trả hoặc tiêu dùng nội bộ (ngoại trừ hàng hóa được chuyển nội bộ để duy trì quá trình sản xuất) và cả việc xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa. Mọi thông tin trên hóa đơn phải được ghi đầy đủ theo quy định tại ĐIều 10 của Nghị định số 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ  và nếu sử dụng hóa đơn điện tử thì phải tuân thủ theo định dạng chuẩn của cơ quan thuế như quy định tại Điều 12 Nghị định số 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ.

- Khi thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân hoặc thu thuế, lệ phí, các tổ chức có thẩm quyền phải lập các chứng từ tương ứng như chứng từ khấu trừ thuế hoặc biên lai thu thuế, phí, lệ phí và giao cho cá nhân có thu nhập bị khấu trừ thuế hoặc người nộp thuế, phí, lệ phí. Tất cả các thông tin cần thiết phải được ghi đầy đủ theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ. Trong trường hợp sử dụng biên lai điện tử cũng phải tuân theo định dạng chuẩn của cơ quan thuế. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân được ủy quyền quyết toán thuế không cần phải cung cấp chứng từ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

- Các tổ chức được giao nhiệm vụ thu phí hoặc lệ phí có thể ủy quyền cho bên thứ ba để lập biên lai thu phí hoặc lệ phí. Trên biên lai này thì tên của tổ chức thu phí hoặc lệ phí vẫn được ghi như là bên giao nhiệm vụ. Việc ủy nhiệm này thì phải được thực hiện thông qua văn bản giữa các bên giao nhiệm vụ và bên nhận nhiệm vụ trong đó phải nêu rõ mục đích, thời hạn và phương thức thanh toán của biên lai ủy nhiệm và cần phải thông báo cho cơ quan thuế khi có thông báo về việc phát hành biên lai.

Như vậy, Căn cứ theo Khoản 1 Điều 4 Nghị định 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ về quy định doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa chuyển khẩu khi bán hàng hóa,cung cấp dịch vụ phải lập hóa đơn. Trong quá trình thực hiện bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ thì người bán tạo hóa đơn và giao cho người bán. Hóa đơn này phải bao gồm đầy đủ thông tin theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 123 năm 2020 Nghị định của Chính phủ. Các trường hợp cần có hóa đơn bao gồm việc bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cũng như việc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích khuyến mãi, quảng cáo, mẫu thử hoặc việc biếu tặng, trao đổi hoặc trả lương cho nhân viên. Người bán cũng phải lập hóa đơn khi xuất hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả hàng hóa. Trong trường hợp sử dụng hóa đơn điện tử thì người bán cần tuân thủ định dạng chuẩn dữ liệu được quy định bởi cơ quan thuế.

Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Chuyển khẩu hàng hóa là gì? Có những hình thức chuyển khẩu hàng hóa nào
Bài viết trên luật Minh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề: Hàng hóa kinh doanh chuyển khẩu có chịu thuế giá trị gia tăng không. Trong bài viết có mục nào chưa hiểu hay bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý có thể liên hệ qua số tổng đài 19006162 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn cụ thể.