>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

Để khắc phục tình trạng trì trệ này và từng bước tạo thuận lợi về môi trường đầu tư để thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, chúng ta đã và đang từng bước tiến hành công cuộc “Cài cách hành chính” và bước đầu cũng đã đạt được những thành công nhất định.

Tuy nhiên, việc phức tạp hoá vấn đề đã trở thành căn bệnh cố hữu, đặc biệt là trong khía cạnh luật pháp. Các cơ quan thi hành pháp luật lại được quyền dự thảo pháp luật, còn quốc hội thì chỉ chỉnh sửa đôi chữ, dấu chấm, dấu phẩy cho phải phép và thông qua. Vì vậy, chỗ nào xương xẩu thì giao cho chính phủ, mà giao cho chính phủ chính là giao cho Bộ đó có quyền soạn thảo Nghị định hướng dẫn Luật. Trong Nghị định, chỗ nào có cơ hội lồng ghép quyền lực lại bỏ ngỏ để Bộ hướng dẫn bằng Thông tư. Các khóa hành chính lúc đó mới thực sự phát huy sức mạnh!

Cái khổ ở đây là vậy, Luật xem ra thông thoáng nhưng thực thi ở cấp dưới thì cực kỳ vất vả! Cách làm luật khung, luật ống dẫn đến tình trạng Luật vừa mới ban hành còn chờ Nghị định và Thông tư hướng dẫn mới thực thi đươc. Ở một số nước có phương pháp áp dụng án lệ đã giúp cho Luật liên tục được bổ sung và đi vào thực tiễn! Còn ở ta thì không! Ngược lại áp dụng theo hình thức Luật khung thì thực tế quyền cuối cùng lại thuộc về Nghị định, Thông tư.

Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư nước ngoài

Luật sư tư vấn luật đầu tư - Ảnh minh họa

Trong khoảng thời gian mấy năm trở lại đây, chính phủ đã không ngừng ban hành các văn bản luật, các nghị định, thông tư nhằm đơn giản hoá các thủ tục hành chính, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế như Luật Doanh nghiệp 2005, … nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp và tạo môi trường pháp lý thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những văn bản luật mới này vẫn vấp phải những vấn đề rất khó giải quyết, và như một số chuyên gia đã bình luận : “càng làm càng rối”.

Trong cam kết gia nhập WTO của Việt Nam đã thỏa thuận những lộ trình mở cửa đầu tư trong một số lĩnh vực. Việt Nam phải công khai lộ trình này cho nhà đầu tư biết. Tuy nhiên, để điều tiết thị trường thì Việt Nam có thể lập những hàng rào kỹ thuật. Một trong những hàng rào kỹ thuật thường áp dụng tại Việt Nam đó là quy mô vốn pháp định của từng loại nghề, DN đầu tư vào lĩnh vực nào thì cần nhiều     vốn? Tuy nhiên rào cản này chỉ gây khó khăn cho nhà đầu tư trong nước. Loại hình rào cản thứ hai là yêu cầu kỹ thuật của người quản lý. Loại hàng rào thứ 3 là tiêu chuẩn về kỹ thuật như tiêu chuẩn vệ sinh ATTP, tiêu chuẩn về môi trường. Loại hàng rào thứ 4 như thuế và chống bán phá giá,…. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã áp dụng các nguyên tắc này để hạn chế việc thành lập các Ngân hàng Thương mại. Ngân hàng Nhà nước đã tăng quy mô vốn điều lệ đối với Ngân hàng Thương mại lên hàng chục lần và yêu cầu về tiêu chuẩn chuyên môn quản lý ngân hàng.

Tuy nhiên, nhận thức về hàng rào kỹ thuật đang là vấn đề khó, cần nghiên cứu sao cho điều kiện hàng rào kỹ thuật một cách hợp lý không bị lẫn lộn sang các loại hàng rào khác như hàng rào hành chính. Còn việc dựng các hàng rào hành chính là việc làm hết sức đơn giản mà ta vốn đã quen làm.

Có lẽ một số quy định trong NĐ 23/2007/NĐ – CP ngày 12/2/2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là một ví dụ (Luật Thương mại 2005 đã ban hành được 2 năm nhưng vẫn chưa đủ Nghị định để hướng dẫn)

>> Xem thêm:  Dịch vụ Luật sư tư vấn pháp luật đầu tư tại thị trường Việt Nam

 Theo khoản 3 Điều 4: nhà đầu tư nước ngoài không phải là nhà đầu tư thuộc các nước, vùng lãnh thổ tham gia Điều ước quốc tế có cam kết mở cửa thị trường về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa mà Việt Nam là thành viên, trước khi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh, Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét, chấp nhận cho hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa đối với từng trường hợp cụ thể.

Rõ ràng đây là một quy định rất không hợp lý. Tại sao phải được Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét và chấp nhận cho hoạt động đối với từng trường hợp cụ thể mà không phải là một quy định chung cho các nhà đầu tư không thuộc đối tượng quy định như trên, và cơ quan cấp phép cứ theo lộ trình mở cửa quy định mà tiến hành theo đúng chức năng nhiệm vụ của mình.

Hay tại khoản 1 Điều 5 có quy định: UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm cấp GPKD để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa cho DN có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp GCNĐT hoặc GPĐT sau khi có ý kiến chấp thuận bằng văn bản của Bộ Thương mại.

Trong trường hợp này, mặc dù DN có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp GCNĐT nhưng để được cấp GPKD vẫn phải được chấp thuận bằng văn bản của Bộ Thương Mại, vậy điều kiện để được BTM chấp nhận là như thế nào lại không được quy định trong nghị định này? Rõ ràng điều này đã là làm khó các nhà đầu tư nước ngoài, giành quyền cho Bộ TM tùy nghi chấp thuận.

Tại khoản 2 Điều 5: Trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam có đầu tư vào hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa thì nộp hồ sơ để làm thủ tục đầu tư tại cơ quan nhà nước quản lý đầu tư. Cơ quan nhà nước quản lý đầu tư lấy ý kiến của Bộ Thương mại và chỉ cấp GCNĐT vào hoạt động mua bán hàng hóa và các các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa nếu được BTM chấp thuận bằng văn bản

Một vấn đề DN đặt ra là làm gì, làm thế nào để được Bộ Thương mại chấp thuận? Có lẽ câu hỏi này rất khó trả lời. Căn cứ để BTM chấp thuận là gì? Trường hợp cụ thể nào thì được Bộ Trưởng chấp thuận? Liệu nguy cơ “quota” có đang hiện diện hay không?!?

Tại Khoản 4 Điều 5: DN có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền phân phối được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất mà không phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định của Nghị định này. Việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bản lẻ thứ nhất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo hướng dẫn của Bộ Thương mại và theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này.

Tại Khoản 2 Điều 8 (Quy trình cấp Giấy phép kinh doanh): Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và gửi hồ sơ lấy ý kiến của Bộ Thương mại. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư biết để sửa đổi, bổ sung hồ sơ.

Tại Khoản 2 Điều 14 (Quy trình cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ): Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và gửi hồ sơ lấy ý kiến của Bộ Thương mại. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư biết để sửa đổi, bổ sung hồ sơ.

Vấn đề nữa cần đặt ra là Cơ quan cấp phép có chức năng gì trong Quy trình cấp Giấy phép kinh doanh và Giấy phép thành lập cơ sở bán lẻ này, không lẽ một cơ quan lập ra chỉ để làm trung gian nhận hồ sơ và trả lời cho DN, còn việc thẩm định hồ sơ lại cần một cơ quan khác can thiệp? Trong trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì sửa đổi, bổ sung như thế nào?

>> Xem thêm:  Bảng báo giá dịch vụ tư vấn pháp luật lĩnh vực đầu tư nước ngoài

Một văn bản pháp luật mới được ban hành nhưng đã vấp phải những vấn đề mang nặng tính chất hành chính: trong một Nghị định mà có quá nhiều những Điều, Khoản yêu cầu sự chấp thuận của một cơ quan khác ngoài cơ quan trực tiếp thực hiện như Khoản 1,2,4 Điều 5, Khoản 2 Điều 8,…quy định thì làm sao có thể gọi là “Cải cách hành chính”, làm sao có thể tạo được môi trường pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài.

Chúng ta đang nói nhiều tới đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm càng nhiều càng tốt các khâu hành chính để tránh tình trạng chống chéo như trước kia, nhưng quả thực vấn đề này sẽ còn phải được tuyên truyền, phổ biến nhiều, rộng hơn nữa, đặc biệt là từ những người ban hành luật pháp.

Luật gia: Cao Bá Khoát

                                                                                    Giám đốc Công ty TNHH

                                                                             Tư vấn Doanh nghiệp K và Cộng sự

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại.)

-----------------------------------------------------------------
THAM KHẢO VÀ DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;
2. Dịch vụ tư vấn cơ cấu lại doanh nghiệp;
3. Tư vấn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội;
4. Tư vấn xây dựng quy chế hoạt động cho doanh nghiệp;
5. Luật sư tư vấn vụ án tranh chấp kinh doanh, thương mại;
6. Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp nội bộ doanh nghiệp.

>> Xem thêm:  Tư vấn cấp giấy chứng nhận đầu tư, điều chỉnh giấy phép đầu tư