1. Lịch sử ra đời các luật lệ về y tế, nông nghiệp và các tiêu chuẩn công nghiệp

Hiệp định đầu tiên về Những rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (thường gọi là Luật Tiêu chuẩn) được đặt ra từ Vòng Tokyo như là một thỏa thuận nhiều bên diễn giải các điều kiện mà theo đó các quốc gia có thể chống lại nhập khẩu thông qua những quy định mang tính chất kỹ thuật. Số lượng ít ỏi các chữ ký phê chuẩn thỏa thuận khiến cho nó chỉ được sử dụng một cách hạn chế nhằm kiểm soát xu hướng của các quốc gia muốn ưu tiên cho ngành công nghiệp nội địa bằng các quy định về kỹ thuật. Bộ Luật Tiêu chuẩn điều chỉnh những quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan tới an toàn thực phẩm, các biện pháp y tế đối với cây trồng và vật nuôi, cùng các khía cạnh khác của chính sách thương mại (Stanton 1999). Bộ Luật Tiêu chuẩn khẳng định lại một lần nữa nguyên tắc rằng các biện pháp như vậy sẽ không “tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại”. Tuy nhiên, cả Điều XX của Hiệp định GATT nguyên thủy và Bộ Luật Tiêu chuẩn đều không có khả năng loại bỏ sự ngăn cản thương mại gây ra bởi sự phổ biến tràn lan các hạn chế mang tính chất kỹ thuật.

Bốn khuyết điểm trong cơ cấu pháp lý thời trước Vòng Uruguay đã làm nhạt nhòa hiệu năng của các quy tắc về rào cản thương mại; đó là những ngăn cách và sự mơ hồ trong Hiệp định GATT và Bộ Luật Tiêu chuẩn, sự thiếu một hệ thống quy tắc tích hợp duy nhất, tiến trình dàn xếp tranh chấp dựa trên sự đồng thuận của GATT và sự loại trừ các tiêu chuẩn về sản xuất và chế biến ra khỏi những quy định của Luật Tiêu chuẩn. Cũng như nhiều thỏa thuận quốc tế khác, Bộ Luật Tiêu chuẩn có một số điều khoản mơ hồ, trong nhiều trường hợp là vì chính sự tối nghĩa sẽ nối kết những chỗ khác biệt giữa các nhà thương thuyết. Nhưng sự tối nghĩa này sẽ khiến việc xác định một quy định cụ thể nào đó của một quốc gia thành viên có mâu thuẫn với quy tắc của GATT hay không trở nên cực kỳ khó khăn. Hơn thế nữa, không phải mọi thành viên của GATT đều ký tên vào Bộ Luật Tiêu chuẩn hoặc vào các bộ luật khác của Vòng Tokyo, làm nảy sinh ra một hệ thống đôi khi được gọi là “GATT à la carte” (GATT dọn sẵn). Việc này đã ngăn ngừa có hiệu quả một số vụ tranh chấp hên quan đến tiêu chuẩn, không đưa chúng ra trước ủy ban của GATT để phân giải. Nhưng ngay cả giữa hai quốc gia đã phê chuẩn Bộ Luật Tiêu chuẩn thì quy trình dàn xếp tranh chấp dựa trên sự đồng thuận của GATT cũng cho phép, hoặc là bên nguyên đơn, hoặc là bên bị đơn, ngăn cản báo cáo của ủy ban dàn xếp tranh chấp, thậm chí là từ chối yêu cầu thành lập một ủy ban như vậy. Cuối cùng bản thân Bộ Luật Tiêu chuẩn chỉ quy định những biện pháp nhằm “xác định đặc điểm của một sản phẩm như là cấp độ chất lượng, hoạt động, độ an toàn hoặc kích thước”, mà bỏ qua bất kỳ sự đề cập dứt khoát nào về phương pháp sản xuất hoặc chế biến.

Để chấn chỉnh những khiếm khuyết này, những quy định đa phương về việc sử dụng các rào cản kỹ thuật đã được hiệu chỉnh lại, mở rộng và tăng cường trong Vòng Uruguay 1986-1994. Bộ Luật Tiêu chuẩn được viết lại để sửa chữa một số khiếm khuyết và điều có ý nghĩa hơn nữa là thương thuyết một thỏa thuận riêng nhằm điều chỉnh những biện pháp về vệ sinh và vệ sinh thực vật. Hiệp định mới về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade - TBT) và Hiệp định về Các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (Agreement on Sanitary and Phytosanitary Measures - SPS) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-1-1995. Hiệp định SPS nêu ra những quy định được thiết kế để ngăn ngừa tình trạng lạm dụng các quy định về an toàn và sức khỏe như là những phương tiện không minh bạch nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước. Hiệp định TBT mới thì đặt ra những quy tắc ràng buộc pháp lý đối với “những phương pháp sản xuất và chế biến liên quan”, lấp lại cái lỗ hổng trong Bộ Luật Tiêu chuẩn từng làm thất bại việc áp dụng bộ luật đó vào nhiều luật lệ quốc nội (Josling, Robert và Orden 2004).

2. Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TBT

Luật lệ nhắm vào việc bảo vệ sức khỏe con người, gia súc hoặc cây trồng khỏi những rủi ro trực tiếp hay xác định được, chẳng hạn như sự lây lan dịch bệnh, những phản ứng do dị ứng có thể xảy ra hay sự phá hoại của côn trùng, thì được điều chỉnh bởi Hiệp định SPS. Tất cả những quy định kỹ thuật khác (nghĩa là những quy định không nhằm giảm rủi ro về vệ sinh và vệ sinh thực vật) thì được điều chỉnh bởi hiệp định TBT riêng rẽ. Cũng giống như Hiệp định SPS, Hiệp định TBT nhắm tới việc phân biệt các biện pháp cần thiết để đạt tới một mục tiêu điều hành nào đó với sự bảo hộ mậu dịch trá hình.

3. Các nguyên tắc trong Hiệp định BTB (Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại)

Đặc biệt là hiệp định TBT kéo dài những nguyên tắc của GATT về đối xử quốc gia và quy chế tối huệ quốc. Hiệp định nói:

>> Xem thêm:  Miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là gì ?

Các thành viên sẽ bảo đảm rằng về phương diện các quy định kỹ thuật, sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào cũng sẽ nhận được sự đối xử không ít ưu ái hơn những sản phẩm tương tự có nguồn gốc nội địa và những sản phẩm tương tự có nguồn gốc từ quốc gia khác. (Điều 2.1)

Và theo hiệp định SPS, hiệp định TBT cũng quy định các quốc gia phải tránh những cản trở thương mại không cần thiết.

Các thành viên phải bảo đảm rằng những quy định về kỹ thuật sẽ không được soạn thảo, phê duyệt và áp dụng với quan điểm hướng tới hoặc cùng với tác dụng tạo ra những chướng ngại không cần thiết cho thương mại thế giới. Vì mục đích này, những quy định về kỹ thuật sẽ không có tính chất giới hạn thương mại nhiều hơn mức cần thiết để hoàn tất một mục tiêu hợp pháp, kể cả những rủi ro mà việc không hoàn thành mục tiêu có thể tạo ra. (Điều 2.2)

4. Một số thiếu sót của Hiệp định TBT

Ngoài những điều khoản xúc tiến thương mại chung chung này, nhìn bề ngoài, hiệp định TBT có vẻ thật bi quan. Hiệp định không hạn chế quyền của một chính phủ áp đặt những giới hạn thương mại nội địa trong khi theo đuổi một mục tiêu hợp pháp theo một cách thức không mang tính bảo hộ chủ nghĩa. Những điều khoản chủ yếu của hiệp định TBT xác định những quan niệm căn bản về “các mục tiêu hợp pháp” và “những hành động không có tính bảo hộ chủ nghĩa” liên quan tới những quy định về kỹ thuật được các cơ quan chính phủ trung ương ban hành. Những điều khoản khác liên quan tới các tiêu chuẩn, sự đánh giá tính phù hợp và tới những hành động khác nữa (ví dụ của các cơ quan chính quyền cấp tiểu bang hoặc cấp địa phương) (Josling, Roberts và Orden 2004).

Một danh sách không đầy đủ những mục tiêu hợp pháp của các rào cản thương mại được ban hành cùng với hiệp định TBT, cũng như một chỉ dẫn về các kiểu chứng cứ có thể được dùng để phán xét xem các công cụ được sử dụng có đáp ứng được các mục tiêu đó hay không:

Những mục tiêu hợp pháp như vậy, không kể những cái khác, là: những đòi hỏi về an ninh quốc gia, ngăn ngừa những hoạt động lừa đảo; bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của con người, đời sống và sức khỏe của động thực vật [ngoại trừ những đối tượng đã được điều chỉnh trong hiệp định SPS], hoặc môi trường. Trong việc đánh giá những rủi ro như vậy, các nhân tố liên quan để xem xét, không kể những cái khác là: các thông tin khoa học kỹ thuật sẵn có, các công nghệ chế biến hoặc sản phẩm dự định cung cấp đến người dũng cuối.

Theo những điều khoản này, một quy định về nhập khẩu phải đáp ứng được hai điều kiện: một là, quy định đó phải nhằm mục tiêu hoàn thành một mục đích hợp pháp nào đó; và hai là, không có sẵn một biện pháp nào khác, ít hạn chế hơn về thương mại để hoàn thành mục đích hợp pháp ấy. Sự kết hợp của điều kiện “mục đích hợp pháp” và “ít hạn chế thương mại hơn” tạo thành cốt lõi của các quy tắc về quy định nội địa mà Hiệp định TBT đòi hỏi. Hiệp định SPS thì đòi hỏi một cách rõ ràng một cơ sở khoa học đầy đủ cho các biện pháp bị nghi vấn, cho phép hệ tiêu chuẩn quốc gia có thể cao hơn, khắt khe hơn tiêu chuẩn mà các quy ước quốc tế đòi hỏi miễn rằng chúng có cơ sở khoa học; đồng thời cho phép các quốc gia sử dụng việc xem xét những yếu tố mà khoa học chưa khẳng định được. Trái lại, Hiệp định TBT có vẻ như đặt ra những tiêu chuẩn ít nghiêm ngặt hơn và cho phép tự do hơn. Tuy nhiên các quy định kỹ thuật có mục đích đề cập tới những vấn đề liên quan tới bản chất khoa học có thể sẽ là đối tượng đánh giá dựa trên những kiến thức khoa học sẵn có (Heumiller và Josling 2001).

>> Xem thêm:  Tập quán thương mại quốc tế là gì ? Tìm hiểu về tập quán thương mại quốc tế ?

5. Phân biệt các biện pháp kỹ thuật và các biện pháp vệ sinh động thực vật

Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các “biện pháp kỹ thuật” (TBT), các nước còn duy trì nhóm các “biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật” (SPS). Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này.

Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho mỗi hai nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau (với các nguyên tắc khác nhau).

Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:

- Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh;

- Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…).

Việc phân biệt khi nào một biện pháp là TBT hay SPS là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định riêng của WTO; trên cơ sở đó, doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích hợp.

Ví dụ 1: Các quy định về thuốc sâu

  • Quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia súc nhằm bảo vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp SPS;
  • Quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp TBT.

Ví dụ 2: Các quy định về bao bì sản phẩm

  • Quy định về hun khử trùng hoặc các biện pháp xử lý khác đối với bao bì sản phẩm (tẩy uế nhằm tránh lây lan dịch bệnh): Biện pháp SPS;
  • Quy định về kích thước, kiểu chữ in, các loại thông tin về thành phần, loại hàng trên bao bì: Biện pháp TBT.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)

>> Xem thêm:  Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) là gì ? Cơ cấu, tổ chức của IMO

>> Xem thêm:  Cán cân thương mại là gì ? Khái niệm về cán cân thương mại ?

Câu hỏi thường gặp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế ?

Câu hỏi: Mục tiêu của Hiệp định về các Rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) là gì?

Trả lời:

Việc thông qua Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (Hiệp định TBT – Agreement on Technical Barriers to Trade) trong khuôn khổ WTO là nhằm thừa nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật đồng thời kiểm soát các biện pháp này sao cho chúng được các nước thành viên WTO sử dụng đúng mục đích và không trở thành công cụ bảo hộ.
Hiệp định TBT đưa ra các nguyên tắc và điều kiện mà các nước thành viên WTO phải tuân thủ khi ban hành và áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật hay các quy trình đánh giá hợp chuẩn, hợp quy của hàng hoá.

Câu hỏi: Các rào cản kỹ thuật đối với thương mại là gì?

Trả lời:

Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn gọi là các biện pháp kỹ thuật – biện pháp TBT).
Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh... Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu.

Câu hỏi: Có những loại “rào cản kỹ thuật” nào?

Trả lời:

Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO phân biệt 03 loại biện pháp kỹ thuật sau đây:

Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) là những yêu cầu kỹ thuật bắt buộc áp dụng (các doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ).

Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) là các yêu cầu kỹ thuật được chấp thuận bởi một tổ chức đã được công nhận nhưng không có giá trị áp dụng bắt buộc; và

Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hoá với các quy định/tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure).