1. Hành vi giả mạo chữ ký và đóng dấu để chiếm đoạt tài sản?

Thưa luật sư, Vợ em làm việc ở UBND xã, được giao nhiệm vụ quản lý con dấu. Nhưng có 2 người có chìa khóa dấu là vợ em và 1 chú văn phòng. Khi vợ em có việc bận xin nghỉ thì chủ tịch xã sẽ chỉ định là bàn giao dấu cho 1 anh văn hóa và 1 chị tư pháp làm giúp nhưng tất cả chỉ là bàn giao miệng không có văn bản.

Bây giờ xảy ra sự việc là có 1 công dân giả mạo chữ ký của ông Phó chủ tịch xã và được đóng dấu của UBND xã để chiếm đoạt tài sản của người khác số tiền là 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Luật sư cho e như thế vợ em phải chịu những trách nhiệm gì? vợ em làm việc ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của xã nhưng vợ em khẳng định là không nhận hồ sơ của người công dân kia, còn việc đóng dấu thì không dám khẳng định là 100% không đóng vì vợ em sợ là người công dân đó nhờ người cài hồ sơ vào thì khi đóng dấu vợ em sẽ không để ý.

Cảm ơn, mong luật sư tư vấn giúp em,

Người gửi: Thanh Mai

Trả lời

Theo những chi tiết bạn nêu, vợ của bạn hoàn toàn không liên quan đến hành vi giả mạo chữ ký chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, để xác định chị ấy có vô can hay không còn phụ thuộc vào kết luận của cơ quan điều tra. Trường hợp kết luận rằng chị ấy không liên quan đến hành vi này chị ấy vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đối với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng:

Điều 360. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng

1. Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Dấu hiệu pháp lý nhận biết đối với tội này:

- Có hành vi thiếu trách nhiệm : có thể là thực hiện hành vi hoặc không thực hiện hành vi. Ở đây, người ta có thể truy cứu việc vợ anh là người quản lý chìa khóa con dấu vậy tại sao lại có con dấu trên hồ sơ của công dân. Nếu chị ấy là người đóng dấu thì chị ấy đã thiếu trách nhiệm trong việc kiểm soát nội dung của hồ sơ.

- Có hậu quả nghiêm trọng: Chính vì sự thiếu trách nhiệm này gây thiệt hại đến tài sản của người khác( 300 triệu đồng)

>> Xem thêm:  Giả mạo chữ ký để thừa kế tài sản giải quyết như thế nào ? Cách chia tài sản thừa kế hợp pháp ?

2. Mượn xe không trả có phải hành vi chiếm đoạt tài sản?

Xin luật sư tư vấn giúp. tôi có mua 1 chiếc xe máy trị giá 13 triệu có giấy mua bán viết tay không có xác nhận.sau khi mua xong bên bán xin mựợn lại chiếc xe vài ngày vì chưa có xe thay thế để đi làm.do quen biết và tin tưởng tôi cho mượn lại và bắt viết giấy xác nhận mượn xe rõ ràng.
Nhưng khi tôi cần xe tôi đã điện thoại và liên hệ rất nhiều lần nhưng bên mượn ko trả.vậy xin luật sư tư vấn giúp tôi có thể khởi kiện bên mượn không và khởi kiện đó là dân sự hay hình sự nếu bên mượn không trả xe ?
Xin cảm ơn

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

Theo đó, hành vi của người bán xe cho bạn có dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Để xác định chắc chắn bạn cần xác nhận xem trên thực tế có lý do khách quan gì dẫn đến việc người đó không trả xe cho bạn không. Nếu không thì bạn có thể đến cơ quan công an trình báo để yêu cầu cơ quan công an giải quyết việc này.

>> Bài viết tham khảo thêm: Khởi kiện khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

3. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?

Thưa Luật sư: Bên A có mượn bên B một số tiền là 100 triệu đồng và có viết giấy tay cam kết là nếu có sai sót gì sẽ chịu trách nhiệm. Bên A cũng có mượn thêm bên C một số tiền là 50 triệu đồng. Hàng ngày bên A phải trả tiền lãi cho bên B và C đến khi có đủ tiền để trả tiền gốc. Do lãi cao, hàng ngày trả tiền lãi thôi cũng không thể xoay nổi nên giờ chưa thể trả nổi tiền gốc, tính đến nay đã 3 năm rồi.
Bước đường cùng quá nên bên A đã bỏ trốn nhưng không phải không trả tiền gốc mà để không phải lo xoay tiền lãi quá cao. Bên A đi như vậy chỉ để xin kiếm tiền trả nợ gốc thôi. Vậy xin luật sư cho em hỏi bên A có bị quy vào tội gì không khi bên B và C đòi đưa đơn kiện ra công an. Nếu bị kết tội thì kết vào tội gì và bị xử lý ra sao?
Em xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn uật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản:

Với thông tin bạn cung cấp, A bổ trốn, do đó, số tiền A vậy B là 100 triệu, A vậy C là 50 triệu. Do đó, trường hợp của A áp dụng quy định tại Khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

2. Cho vay nặng lãi

Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

"1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định."

Điều 407. Hợp đồng dân sự vô hiệu

"1. Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu.

2. Sự vô hiệu của hợp đồng chính làm chấm dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp đồng phụ được thay thế hợp đồng chính. Quy định này không áp dụng đối với biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

3. Sự vô hiệu của hợp đồng phụ không làm chấm dứt hợp đồng chính, trừ trường hợp các bên thỏa thuận hợp đồng phụ là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính."

Điều 468. Lãi suất

"1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Theo thông tin bạn cung cấp, dựa trên theo quy định của pháp luật, bạn xác định được lãi suất mà các bên thỏa thuận có cao hơn 150% lãi suất cơ bản của Ngân hành Nhà nước công bố hay không? Nếu vượt quá, A có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vay này vô hiệu, các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng mua bán hàng hóa trả góp mới nhất năm 2020

4. Chiếm đoạt tài sản qua hình thức xin việc làm khởi kiện thế nào ?

Thưa luật sư, Em có nhờ xin việc cho tôi va đã đưa cho 1 người nhận xin việc cho e 290 tr đồng nhưng tới nay việc khô g thành. Và ng đó mãi ko trả e tiền. Nếu e kiện. E có lấy lại đc hết số tiền đó không?
Em xin cảm ơn luật sư ạ!

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp này, nếu người đó không có ý định trả tiền cho bạn thì bạn có thể khởi kiện người đó về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017. Nếu người đó vẫn có ý định trả lại tiền nhưng ở thời điểm hiện tại không có khả năng trả thì không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn chỉ có thể khởi kiện dân sự người đó về hành vi chậm trả tiền cho bạn.

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản


1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

>> Xem thêm:  Phải làm sao khi bị công ty tài chính làm phiền khi lỡ xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp ?

5. Hành vi chiếm đoạt tài sản?

Xin chào Luật sư! Tôi có 1 người bạn gần nhà, nay đã chuyển đi nơi khác sinh sống. Cách đây khoảng gần 2 tháng, người bạn đó về chỗ tôi chơi. Tôi và bạn tôi đi uống nước nói chuyện . Khi đó bạn tôi hỏi mượn chiếc xe máy DREAM và giấy Đăng ký xe để mang đi cầm đồ và hẹn tôi là ngày hôm sau sẽ trả lại xe cho tôi. Tôi đồng ý và giao xe cùng giấy tờ cho bạn tôi.
Sau đó bạn tôi đi đâu không rõ. Hôm sau tôi gọi điện hỏi thì bạn tôi nói chưa về được và hẹn tôi 2 hôm nữa. 2 Ngày sau tôi lại gọi điện hỏi xe thì bạn tôi bảo đang về quê có việc nên khoảng 1 tuần nữa mới về. Trong thời gian đó tôi và bạn tôi vẫn thường xuyên liên lạc với nhau . Nhưng khi hết 1 tuần tôi gọi thì bạn tôi tắt máy không liên lạc được. Tôi liên tục gọi điện và nhắn tin nhưng không được và không thấy trả lời. Ngày nào tôi cũng gọi trong suốt 1 tháng sau đó vẫn không được nên tôi có tới nhà tìm thì cả 2 lần đều không gặp người bạn hay bất cứ ai trong gia đình của bạn tôi. Tôi có nhờ bạn bè và anh em quen biết là nếu ai liên lạc được với người bạn đó thì nhắn hộ tôi rằng nếu không gọi điện cho tôi thì tôi sẽ gửi đơn lên Công an. Ngày hôm sau tôi nhận được điện thoại từ 1 số điện thoại lạ gọi tới, đó là người bạn của tôi. Và tôi hỏi bao giờ mang xe về trả hay để tôi gửi đơn lên công an, người bạn đó nói là sau hôm về quê thì ốm nặng suốt 1 tháng liền, điện thoại bị mất nên không dùng và bảo tôi đợi 3 hôm.
Ba ngày sau đó tôi gọi cho bạn tôi để hỏi xe thì số điện thoại đó lại không liên lạc được, từ hôm đó tới giờ phải gần nửa tháng. Trong trường hợp của tôi thì có thể nhờ cơ quan công an vào cuộc không? Có thể kiện người bạn đó không? Nếu được thì kiện vào tội gì, và đơn kiện như thế nào?
Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo nhưng thông tin bạn cung cấp, thì hành vi của người bạn của bạn có dấu hiệu cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

-Về lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Nếu bạn của bạn có thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin trái sự thật ngay từ ban đầu thì có thể cấu tành tội lạm dụng

Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định:

"Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Vì người bạn của bạn đã dùng rất nhiều lời nói gian dối để đánh lừa bạn, kết cục là chiếm đoạt chiếc xe máy của bạn. Bạn có quyền khiếu nại để đòi lại quyền lợi của mình. Bạn hãy gửi đơn lên cơ quan công an và yêu cầu giải quyết trong thời gian sớm nhất!

- Nếu lúc mượn xe của bạn, bạn của bạn không đưa ra những thông tin trái sự thật nhằm lừa dối bạn để bạn tin tưởng giao tài sản cho, nhưng sau khi có được tài sản rồi lại có hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản đó hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản thì sẽ bị truy cứu TNHS theo quy định tại Điều 175 BLHS về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Sang tên xe có cần đổi biển số xe không ? Thủ tục đăng ký xe