1. Khởi kiện khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư, Tôi có một câu hỏi xin được giải đáp: Tôi vừa bị lừa 5,500,000₫ về việc là mua hàng qua mạng. Bên kia yêu cầu tôi chuyển đủ số tiền nêu trên trước khi giao hàng nhưng tôi chuyển tiền họ lại không chuyển hàng cho tôi. Vậy tôi muốn kiện thì làm thế nào ?
Tôi xin trân thành cám ơn!
Người gửi: V.K

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 (văn bản thay thế: Bộ luật hình sự năm 2015):

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Dấu hiệu pháp lí: (Tội) lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên;

- Gây hậu quả nghiêm trọng;

- Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;

- Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật. hành vi lừa dối như vậy có thể được thực hiện qua lời nói, việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm cụ thể (cân, đong, đo, đếm thiếu).

Ở mỗi hình thức như vậy người phạm tội có thể có những thủ đoạn thực hiện cụ thể khác nhau. Những thủ đoạn thực hiện cụ thể này không có ý nghĩa về mặt định tội. Đã là hành vi lừa dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện cụ thể:

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế. Tội lừa đảo coi là hoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận) hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm cho được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó. Tội phạm coi là hoàn thành từ thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối. Nhưng cũng có trường hợp giữa hau hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian. Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tôi biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và những tình tiết bạn đưa ra, bạn có thể thực hiện khởi kiện người có hành vi lừa đảo đó tại Tòa án nhân dân cấp huyện (quận, thành phố thuộc tỉnh) nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn khởi kiện là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

Tham khảo: Mẫu đơn khởi kiệnmẫu đơn trình báo công an

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Mặt khách quan của cấu thành tội phạm ? Mặt khách quan của cấu thành tội phạm là gì? Trong mặt khách quan có những dấu hiệu nào? Đặc điểm của những dấu hiệu ấy ra sao?

2. Khởi kiện lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở đâu ?

Chào Luật Sư Minh Khuê! Xin tư vấn giúp tôi : tôi ở bên Mỹ và nhờ cháu trai đứng ra chuyển khoản từ Hồ Chí Minh cho hai vợ chồng tại Yên Bái, đây là 75 triệu đồng mua đất của ba, mẹ của hai vợ chồng họ giới thiệu tôi..Nhưng khi biết sự thật là họ lừa chúng tôi và chúng tôi có gặp họ ở tại gia đình Yên Bái, chúng tôi có thông cảm cho họ hoàn lại tiền nhưng họ chỉ mới trả được 12 triệu.
Sau 1 tháng tới bây giờ họ không liên lạc với tôi nữa. Tôi vẫn còn cuộc đối thoại bằng tin nhắn ở facebook,giấy bank từ Hồ Chí Minh ra Yên Bái. Như vậy tôi nên nộp đơn kiện ở toà án ở đâu? Họ thuộc loại hình tội gì thưa luật sư?
Xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.0159.

Trả lời:

1. Nộp đơn khởi kiện ở đâu?

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định:

Điều 171. Thẩm quyền theo lãnh thổ

1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trong trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.

Như vậy, trường hợp của bạn, tội phạm được thực hiện tại Yên Bái nên bạn nộp đơn khởi kiện vụ án hình sự tại Yên Bái.

2. Phạm tội gì ?

Theo như bạn nêu thì hành vi đó đủ các dấu hiệu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 :

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Như vậy, với số tiền lừa của bạn là 75 triệu đồng thuộc trường hợp Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng, mức phạt sẽ là hai năm đến bảy năm tù.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc bị lừa chuyển tiền vào tài khoản ? Cách tố cáo lừa đảo

3. Phân biệt hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Chào Luật sư, vào khoảng 22h ngày 26/6/2016 mình đang trông quán intenet tại nhà Cô thì có 1 đối tượng là người quen vào cầm chìa khóa xe máy của mình r nói nhanh mượn 5p vì là có quen biết nên mình cho mượn mà ko ra giằng lại, vì đối tượng là nghiện nên mình cũng ko tin tưởng lắm chờ 1 tiếng sau mình và bạn đi tìm ko thấy sang nhà cũng ko thấy. Mình nghĩ có lẽ mình bị lừa đảo. Nhưng xe mình lại mới bị mất giấy tờ xe mình lại tháo biển ra để đi quanh nhà nữa, xe mình là Wave A trong cốp mình để ví và trang sức tổng trị giá là 5tr bao gồm 3tr tiền mặt, 1 nhẫn vàng tây 10k 1,35 chỉ, kính và đồng hồ. Vì mình đang trông quán intenet nên có camera ghi lại hình ảnh rõ ràng và có ng làm chứng. Đối tượng từng có tiền án 2 năm tù về hành vi Vận chuyển ma túy. Trong trường hợp này mình có thể gửi đơn tố cáo truy cứu trách nghiệm hình sự được ko Luật Sư?
Mong Luật Sư phản hồi sớm và tư vấn giúp mình để có biện pháp sớm nhất.

Trả lời:

Luật Minh Khuê tư vấn cách phân biệt tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - là hai tội phạm có nhiều dấu hiệu, hành vi khách quan tương đồng nhau.

Theo quy định tại Điều 140 Bộ Luật Hình sự 1999 thì:

Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Như vậy, Hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Như vậy, người này đã có hành vi mượn xe của bạn nhưng lại bỏ trốn và không trả lại tài sản, có dấu hiệu của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, còn đối với phần tài sản trong cốp xe của bạn, người kia có hành vi chiếm đoạt một cách lén lút, và bạn không hề đồng ý về việc cho người kia vay hay sử dụng khối tài sản này. Vì vậy, người này thực hiện đồng thời 2 hành vi phạm tội: lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và hành vi trộm cắp tài sản. Theo đó, bạn có thể trình báo với cơ quan công an về hành vi này.

Chào luật sư. cháu ở bên hàn quốc gia đình cháu rất hoàn cảnh anh cháu bị bệnh hiểm nghèo. gia đình cháu có vho chị dâu vay 180 triệu làm an hứa mỗi tháng trả 10 triệu viết hợp đồng đàng hoàng và có giấy gửi ngân hàng vào thẻ chị dâu. chon dâu mới trả 1 thang 10 triệu còn lại là 170 triệu . nhưng nói là đã làm ăn thua lỗ lấy tiền lấp nợ không nói bao giờ trả . giờ gia đình cháu rất đang khó khăn anh cháu phải nằm viện cháu rất đau lòng đứng ngồi không yên. xin tư vấn giúp cháu cách đòi tiền như thế nào cho hợp lý giúp cháu với.

Trong trường hợp của bạn, bạn có quyền làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi người vay nợ hiện đang cư trú để yêu cầu người này phải trả nợ cho bạn. Đồng thời, bạn cần cung cấp tất cả chứng cứ chứng minh liên quan đến việc vay nợ của chị dâu bạn, và việc không trả nợ đúng hạn của người này.

Xin chào công ty Luật Minh Khuê, Tôi có câu hỏi như sau : Gia đình A vay tiền của gia đình tôi một số tiền và lấy giấy tờ nhà chính chủ để thế chấp, có giấy vay tiền viết tay. Giấy tờ nhà ở đây là giấy xác nhận phân nhà (tất cả các hộ dân ở khu vực này đều thuộc dạng nhà được nhà nước phân và không có sổ đỏ). Vậy tôi muốn hỏi : - Gia đình A báo mất giấy tờ nhà với chính quyền và làm thủ tục xin cấp lại thì có được không? Nếu trong trường hợp có, và chính quyền cấp lại giấy tờ nhà thì tôi có quyền kiện gia đình A về việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản và khai man thủ tục cấp giấy tờ nhà trong khi đã cầm cố; và gia đình A có bị thu hồi giấy tờ nhà đã được cấp lại không? - Trường hợp căn nhà cầm cố thuộc diện giải tỏa,trong quá trình đền bù giải phóng mặt bằng gia đình A thông báo mất giấy tờ nhà thì có được bồi thường không?

Theo quy định của pháp luật, để được cấp lại Giấy chứng nhận quyến sử dụng đất do bị mất, thất lạc thì người có yêu cầu phải báo mất tới UBND phường, xã nơi có đất. Theo đó, UBND niêm yết trong vòng 30 ngày, nếu không có thông tin phản hồi thì tiến hành cấp giấy xác nhận bị mất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, trong thời gian UBND phường niêm yết thông tin trên, bạn có thể tới cơ quan này đế báo về việc người kia đã thế chấp cho bạn quyền sử dụng đất và vay tiền.

Theo quy định của pháp luật, đối với trường hợp nhận thế chấp quyền sử dụng đất thì phải đăng ký giao dịch bảo đảm này, nếu không tuân thủ quy định về mặt hình thức, giao dịch trên có thể bị tuyên vô hiệu. Theo đó, gia đình nhà A có trách nhiệm phải hoàn trả lại cho gia đình bạn số tiền đã vay, và nhà bạn phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cho gia đình này.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Hình phạt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Kính gửi Luật sư công ty Luật Minh Khuê. Tháng 8/2014 tôi có quen và cùng hợp tác làm ăn cùng với NVB ngụ tỉnh HG. Trong thời gian này mọi thu chi bảo đều giao tôi quản lý, chúng tôi đã mua sắm được hai máy nén khí. Tháng 10/2014 B quen HTM ở NA và sinh sống với nhau như vợ chồng. Do chúng tôi làm nhà thầu phụ cho Trung Quốc và vợ của NVB biết tiếng Trung nên từ đó mọi hợp đồng đều do NVB đứng ra ký giùm.
Đến tháng 11/2014 B và M nói ngoài HT có công trình lớn hợp đồng khoảng 30 tỷ kêu tôi bỏ thêm 50 triệu để cùng vận chuyển máy móc ra đó làm nhưng tôi nói không có tiền nên không đi. Kể từ đó mọi thu chi đều do M quản lý, ra đó làm hai tháng thì chúng tôi xảy ra mâu thuẫn nên đi đến quyết định không làm nữa B nói với tôi tiền vận chuyển máy móc ra đây rất lớn, tiền tháng cuối và 20% của tháng đầu nếu mình đem máy về thì Trung Quốc (pc19) sẽ không trả nên nói tôi cứ để máy móc thiết bị cho Trung Quốc thuê 15 triệu/tháng và M sẽ ở lại để lấy số tiền còn lại.
Vì tin tưởng, tôi đã giao toàn bộ máy móc, thiết bị và tiền Trung Quốc thiếu cho M. Sau hơn 4 tháng tôi điện hỏi thì M bảo Trung Quốc chưa trả tiền, tôi đến lúc này vì sợ mất máy móc nên tôi kêu M chuyển đồ về cho tôi. M chỉ chuyển cho tôi một máy và tính cho tôi tiền vận chuyển 32 triệu trong khi đó tôi liên hệ với xe vận chuyển máy cho tôi chỉ khoảng 13 triệu. Tôi nói M và B để cái máy sau tôi tự vận chuyển nhưng M và B vẫn chuyển tiếp cái máy vào và tính tôi thêm 32 triệu (khoảng cách chuyển giữa hai cái máy hơn một tháng). Tôi tưởng M đã lấy tiền tôi cho thuê máy để trả tiền vận chuyển nhưng khi tôi liên hệ nhận máy thì chủ xe nói hai chuyến M chưa trả tiền và bắt tôi phải trả 64 triệu mới cho lấy máy nếu không họ bán máy trừ tiền vận chuyển (M và chủ xe có quen biết họ hàng), tôi không có tiền và đang cần máy để thi công vì tôi và B đã ký hợp đồng ở TV. B nói có chỗ vay tiền để lấy máy về lãi xuất 10% .
Trong thời gian đó, tôi vẫn thúc giục M lấy tiền nhưng M nói Trung Quốc chưa trả nên tôi nhờ phiên dịch TV điện cho Trung Quốc thì họ nói đã trả hết cho M từ lâu, khi tôi điện M nói tôi đã điện cho Trung Quốc thì M nói cứ ra đây ba mặt một lời thì sẽ rõ nhưng khi tôi ra đó thì M trốn không gặp tôi. Tôi quay về TV nói với B, B nói không biết vì đã chia tay với M và nói với tôi bỏ số tiền đó đi. Khi tôi điện M thì M nói B lấy hết rồi. Trong thời gian làm TV thì B nói bỏ vốn tôi bỏ công làm chia đều nhưng khi công trình hoàn thành B tính tôi 124 triệu tiền lãi (10% / tháng ) và 64 triệu tiền vận chuyển. Sau đó biết mình bị lừa và B biết tôi đã hết tiền nên nói với tôi ai đưa 50 triệu sẽ lấy toàn bộ máy móc, và bây giờ B đã lấy hết.
Tôi bây giờ không biết làm cách nào và nhờ ai lấy lại công bằng cho tôi xin tư vấn giúp tôi. Trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi : 1900.0159

Trả lời:

Để xác định B và M có phạm tội hay không trước hết phải biết được những yếu tố cấu thành tội phạm: Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ bốn yếu tố: yếu tố khách thể, yếu tố chủ thể yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan.

+ Khách thể ở đây là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại: ở đây là tài sản, cụ thể là tiền của bạn có dấu hiệu bị lừa mất.

+ Mặt khách quan của tôi phạm là những biểu hiện của bên ngoài tội phạm. Mặt khách quan bao gồm các dấu hiệu: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả tác hại do tội phạm gây ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả do hành vi đó gây ra; thời gian, địa điểm; công cụ phương tiện thực hiện tội phạm. Thì theo như bạn trình bày:

M nói đã trả tiền chuyển hàng nhưng khi bạn hỏi chủ xe thì chủ xe lại bảo chưa trả. M cố tình nói dối về việc phái bên Trung Quốc chưa trả tiên để không thanh toán cho bạn nhưng thực chất bên Trung Quốc đã trả tiền rồi. Đến lúc bạn ra HT thì M lại trốn, không gặp bạn.

Về phía anh NVB thì có thỏa thuận với bạn về việc một người bỏ công, một người bỏ vốn nhưng cuối cùng anh B lại tính bạn 124 triệu tiền lãi (10% / tháng ) và 64 triệu tiền vận chuyển mà không có sự đồng ý của bạn. Sau đó B nói ai đưa 50 triệu sẽ lấy toàn bộ máy móc, và bây giờ B đã lấy hết mà bạn không được quyền quyết định.

+ Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện bên trong của tội phạm,là thái độ tâm lý của người phạm tội. Mặt chủ quan của tội phạm gồm các dấu hiệu lỗi,động cơ, mục đích cuả tội phạm. Ở đây chắc chắn B và M đều biết hành vi của mình là không đúng nhưng vẫn cố tình thực hiện.

+ Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, mà theo quy định của Luật Hình sự họ phải chịu trách nhiệm về hành vi đó. Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Vì bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết B và M có đủ năng lực trách nhiệm hình sự không? Nếu B và M tại thời điểm đó đã đủ 18 tuổi, không bị hạn chế hay mất năng lực hành vi dân sự thì có đủ điều kiện để chịu trách nhiệm về hành vi đó.

Với tất cả những lý do đó, nếu bạn có bằng chứng bạn có thể khởi kiện M và B vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo đó, bạn có thể khởi kiện đến Tòa án về hành vi của hai người này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Ký hợp đồng nhưng lại lừa đảo tiền bị xử lý thế nào?

Chào luật sư, em có vấn đề sau mong được luật sư tư vấn. Em đăng kí đi xuất khẩu lao động đi Nhật vào tháng 11/2014 đã được phỏng vấn trực tiếp với người Nhật và đậu . Thời gian học từ 4 đến 6 tháng sẽ được bay sang Nhật làm việc. Tháng 6 vẫn không tin tức gì thì công ty cho đủ lí do kéo dài đến tháng 9/2015 thì tụi em làm lớn chuyện công ty mới xin lỗi và hẹn tháng 10 trả tiền rồi sau đó mất tích không trả tiền nữa.
Số tiền 1 người là khoảng 70 triệu trong đó có 150 người. Theo luật sư chúng em nên làm gì để lấy lại được tiền ?
Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đã ký hợp đồng xuất khẩu lao động tuy nhiên lại không được đi xuất khẩu lao động theo thỏa thuận và cũng không được trả lại số tiền đã đóng ban đầu. Ở đây, đã có dấu hiệu lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Do đó, trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì bạn nên làm đơn khởi kiện để được giải quyết.

>> Tham khảo: Mẫu đơn khởi

Về án phí lệ phí khởi kiện được quy định tại Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 về Án phí, lệ phí tòa án​ :

Mức án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án dân sự không có giá ngạch, mức án phí dân sự phúc thẩm; Mức án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm; Mức án phí hành chính sơ thẩm và án phí hành chính phúc thẩm:

Loại án phí

Mức án phí

Án phí hình sự sơ thẩm

200.000 đồng

Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự,

hôn nhân và gia đình, lao động không có giá ngạch

200.000 đồng

Án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp kinh doanh,

thương mại không có giá ngạch

2.000.000 đồng

Án phí hành chính sơ thẩm

200.000 đồng

Án phí hình sự phúc thẩm

200.000 đồng

Án phí dân sự phúc thẩm

200.000 đồng

Án phí hành chính phúc thẩm

200.000 đồng

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Giá trị tài sản có tranh chấp

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp kinh doanh, thương mại có giá ngạch:

Giá trị tranh chấp

Mức án phí

a) từ 40.000.000 đồng trở xuống

2.000.000 đồng

b) Từ trên 40.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

5% của giá trị tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

4. Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp lao động có giá ngạch:

Giá trị tranh chấp

Mức án phí

a) Từ 4.000.000 đồng trở xuống

200.000 đồng

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

3% của giá trị tranh chấp, nhưng không dưới 200.000 đồng

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

12.000.000 đồng + 2% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 2.000.000.000 đồng

44.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo