1. Hành vi giả mạo chữ ký người khác là hành vi thế nào?
Chữ ký được định nghĩa là biểu tượng cá nhân được áp dụng trên các tài liệu, giấy tờ để chứng minh sự đồng ý và sự xuất hiện của người ký đối với nội dung của tài liệu đó. Vì tính chất cá nhân của chữ ký, mỗi người tạo ra chữ ký riêng, là biểu hiện của bản thân họ, do đó, việc tái tạo một chữ ký giống hệt của người khác là vấn đề khó khăn.
Hành vi giả mạo chữ ký được định nghĩa là việc sao chép, mô phỏng chữ ký của người khác với mục đích hưởng lợi mà không tuân theo quy định pháp luật. Hiện nay, việc giả mạo chữ ký thường xuyên xuất hiện trong các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong hợp đồng dân sự và các hành động lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản.
Một số tình huống thường gặp liên quan đến giả mạo chữ ký bao gồm:
- Đầu tiên, người ký có thể thay đổi chữ ký ổn định của mình bằng cách điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ, thêm hoặc bớt nét để tạo ra các biến thể giống nhau nhưng không hoàn toàn giống nhau mỗi lần ký.
- Thứ hai, hành động mô phỏng chữ ký của người khác có thể sử dụng các phương tiện như tập ký, bản sao nét, photocopy, in phun màu, hoặc thậm chí tạo một chữ ký mới mang tên của người bị giả mạo.
Các lĩnh vực có nguy cơ cao về việc giả mạo chữ ký thường bao gồm công chứng, chứng thực, quản lý sở hữu trí tuệ, lĩnh vực kế toán, kiểm toán, và nhiều lĩnh vực khác.
Có thể đề cập đến một số hành vi giả mạo chữ ký như sau:
- Giả mạo chữ ký trong quá trình chuyển nhượng tài sản, đặc biệt là khi liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bất động sản.
- Hành vi giả mạo chữ ký xuất hiện trong quá trình kiểm kê hàng hóa.
- Giả mạo chữ ký của các người có thẩm quyền trong các văn bản hành chính nhà nước.
2. Giả mạo chữ ký vợ để vay tiền ngân hàng bị xử lý thế nào?
Theo quy định của Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ và chồng có thể ủy quyền cho nhau việc xác lập, thực hiện, và chấm dứt giao dịch. Bên cạnh đó, theo Bộ luật Dân sự năm 2015, khi thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung, sự đồng ý của cả hai bên là bắt buộc.
Do đó, nếu muốn tiến hành quy trình tất toán các khoản vay tại ngân hàng liên quan đến quyền sử dụng đất trong tình huống tài sản chung của cả hai vợ chồng, việc có văn bản ủy quyền từ người chồng hoặc vợ là cần thiết. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quyết định về tài sản chung phải được sự đồng thuận của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp cả hai vợ chồng đều có tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc chồng sử dụng phương tiện giả mạo chữ ký của vợ để thế chấp sổ đỏ vay tiền tại ngân hàng sẽ bị coi là vi phạm pháp luật. Điều này có thể dẫn đến vô hiệu hóa giao dịch dân sự liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền, do vi phạm quy định cấm đoán tại Điều 123 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2015, được mô tả như sau:
- Giao dịch dân sự bị vô hiệu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên, không làm thay đổi, chấm dứt hay phát sinh điều gì từ thời điểm giao dịch được thực hiện.
- Trong trường hợp giao dịch dân sự trở nên vô hiệu, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu của họ và hoàn trả cho nhau mọi giá trị đã nhận được. Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật, thì giá trị cần được tính bằng tiền để thực hiện quá trình hoàn trả.
Điều này có nghĩa là việc vô hiệu hóa giao dịch dân sự sẽ đưa các bên về tình trạng như trước khi giao dịch diễn ra, và họ sẽ phải hoàn trả cho nhau mọi giá trị đã trao đổi trong giao dịch đó. Hậu quả này đảm bảo sự công bằng và tuân thủ các quy định pháp luật, giúp khôi phục lại trạng thái ban đầu của các bên trong giao dịch.
Hơn nữa, việc thực hiện hành vi mà người khác ký giả chữ ký của chị để thế chấp đất vay tiền ngân hàng có thể bị xem xét và xử lý theo các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Theo quy định này, cả chồng của chị và người được nhờ ký giả có thể phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hình phạt cao nhất cho tội này có thể lên đến 12 năm tù, 20 năm tù, hoặc thậm chí án tù chung thân, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
3. Quy định về xử phạt hành chính hành vi giả mạo chữ ký
Hành vi giả mạo chữ ký của người khác, khi chưa đáp ứng đủ yếu tố cấu thành tội phạm và không tạo ra mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, có thể bị xử phạt hành chính theo quy định của Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012. Cụ thể, một số trường hợp sau đây có thể bị xử phạt vi phạm hành chính:
- Giả mạo chữ ký trong hoạt động công chứng, chứng thực:
Hành vi giả mạo chữ ký của công chứng viên sẽ bị phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng (điểm b, khoản 2 Điều 15 Nghị định 82/2020/NĐ-CP).
Hành vi giả mạo chữ ký của người thực hiện chứng thực sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng (điểm a, khoản 2 Điều 34 Nghị định 82/2020/NĐ-CP).
- Giả mạo chữ ký trong hoạt động sở hữu trí tuệ:
Hành vi giả mạo chữ ký của tác giả trên các tác phẩm sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, đồng thời buộc tiêu hủy tang vật vi phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Nghị định 131/2013/NĐ-CP.
- Giả mạo chữ ký trong hoạt động kiểm toán, kế toán:
Khi chữ ký không thống nhất hoặc không đúng với sổ đăng ký mẫu chữ ký, hành vi này sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng theo quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 8 Nghị định 41/2018/NĐ-CP.
- Giả mạo chữ ký trong thực hiện biện pháp bảo đảm:
Hành vi giả mạo chữ ký của người yêu cầu đăng ký trong phiếu yêu cầu đăng ký hoặc trong văn bản thông báo về việc kê biên hoặc giải tỏa kê biên để thi hành án dân sự sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 54 Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
4. Xử lý hình sự hành vi giả mạo chữ ký người khác
Khi hành vi làm giả mạo chữ ký người khác có thể đưa đến những hậu quả nguy hiểm và đầy đủ các yếu tố tạo thành tội phạm, các hành vi này có thể bị xử lý hình sự dựa trên các tội danh sau đây:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017):
Hành vi giả mạo chữ ký người khác sẽ bị coi là tội phạm khi người phạm tội thực hiện các hành vi gian dối, làm giả mạo chữ ký trên các loại giấy tờ, hợp đồng và làm cho người khác tin rằng thông tin đó là đúng sự thật, từ đó tự nguyện giao tài sản của họ.
Đối với tội danh này, khung hình phạt thấp nhất có thể là phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng từ 06 tháng đến 03 năm, hoặc phạt tù không giam giữ đến 03 năm. Trong khi đó, khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
- Tội giả mạo trong công tác (Điều 359 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017):
Hành vi giả mạo chữ ký sẽ bị xem là Tội giả mạo trong công tác khi người phạm tội vì mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ và quyền hạn để thực hiện hành vi giả mạo chữ ký của người có chức vụ và quyền hạn.
Đối với tội danh này, khung hình phạt thấp nhất có thể là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Trong khi đó, khung hình phạt cao nhất là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Bài viết liên quan: Giả mạo chữ ký của người bình thường bị xử lý như thế nào?
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!