1. Hành vi

Định nghĩa: Năm 1913 trong bài viết: "Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi" của tác giả J. Watson, thuật ngữ hành vi lần đầu tiên được xuất hiện với tư cách là một khái niệm của khoa học Tâm lý học. Hành vi trở thành đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học - Tâm lý học hành vi, dựa trên mối quan hệ giữa phản ứng và kích thích, hành vi là phản ứng (S) - trả lời đơn thuần đối với kích thích (R), trong đó, kích thích là nguyên nhân, phản ứng là kết quả. 

Skinner nhà hành vi mới cho rằng: hành vi có thể được kiểm soát bởi chính hiệu quả của nó (hành vi) tạo ra mà ông gọi là cái "củng cố" hành vi. Nói cách khác, nội dung và tính chất của hành vi hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu quả của "củng cố" do chính nó (hành vi) tạo ra. Ông tin rằng, con người hay con vật đều có thể huấn luyện (đào tạo) thực hiện những hành vi khác nhau tùy thuộc vào nó "hành vi" được củng cố bởi cái gì và như thế nào. Như vậy, về nguyên tắc, ai kiểm soát được cái củng cố thì người đó kiểm soát được hành vi. Muốn thay đổi một hành vi đã hình thành, do đó, phải thay đổi cái "củng cố" nó. Với lập luận đó, Skinner cho rằng cái "củng cố" có trong môi trường chính là nguyên nhân tạo ra hành vi của con người hay con vật.
Theo quan điểm của nền tâm lý học mác xít, cả ý thức và hành vi đều tồn tại khách quan, tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người đối với thế giới xung quanh, với người khác và với chính bản thân mình. Khái niệm hành vi trong tâm lý học mác xít không tách rời khái niệm hoạt động mà hành vi là biểu hiện cụ thể ra bên ngoài của hoạt động.
Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa hành vi như sau: Là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một người trong một hoàn cảnh nhất định. 
Hành vi theo quan điểm của các nhà tâm lý học hoạt động không giống khái niệm hành vi trong quan điểm của các nhà tâm lý học hành vi: L.X. Vưgốtxki với bài báo: "Ý thức là vấn đề của tâm lý học hành vi", đã xác định hành vi là cuộc sống, là lao động, là thực tiễn, tức là phải hiểu hành vi là hoạt động với đơn vị của nó là hành động, là cuộc sống.
Trong luật hình sự, hành vi được hiểu là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới hình thức cụ thể nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn.
Vậy, hành vi là hình thức của hoạt động, là hành động bên ngoài thể hiện cái hành động tâm lý ở hoàn cảnh nhất định.

2. Phân loại hành vi

Theo phân loại của xã hội học pháp luật có hai loại nhóm hành vi của cá nhân:
Nhóm thứ nhất bao gồm những người tuân thủ các chuẩn mực pháp luật, gồm:
- Hành vi hợp pháp: có đặc trưng là có thái độ tôn trọng có tính nguyên tắc đối với các chuẩn mực pháp luật;
- Hành vi có tính công cụ (cơ hội): được đánh giá nói chung là tích cực, song xuất phát từ những động cơ chấp nhận chuẩn mực pháp luật vì có lợi cá nhân nào đó;
- Hành vi bắt buộc: có đặc trưng là tương ứng với những chuẩn mực pháp luật, nhưng trong trường hợp này con người hành động không phải từ động cơ của cá nhân mà do sức ép của “tiểu” văn hóa nhóm hoặc do áp lực của hệ thống kiểm soát chính thức luôn theo dõi việc chấp hành pháp luật.
Hành vi hợp pháp của cá nhân luôn có ý nghĩa về mặt xã hội, nói chung nó củng cố các quan hệ xã hội, trật tự pháp luật và là tấm gương tốt cho mọi người. Hành vi hợp pháp thường có những động cơ như là ý thức về nghĩa vụ, bổn phận của mình, nhu cầu có tính đạo đức - xã hội (quan tâm chăm sóc bạn bè, thông cảm, tương trợ lẫn nhau…). Nói chung các động cơ của hành vi hợp pháp của cá nhân thường rất đa dạng như: 
+ Niềm tin vào giá trị xã hội của những hành vi của mình;
+ Nghĩa vụ đối với xã hội, trách nhiệm về mặt pháp luật;
+ Cảm giác trách nhiệm của nghề nghiệp;
+ Tính có lợi về mặt thực tiễn của hành vi đối với người khác;
+ Thói quen hành động, hành vi theo mẫu;
+ Thỏa hiệp, theo số đông;
+ Sợ trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm đạo đức;
+ Có lợi cho cá nhân nhờ thực hiện những hành vi này;
+ Do những lợi ích có tính ích kỉ;
+ Các động cơ tiêu cực (trả trù, ghen tuông..) thông qua các phương tiện hợp pháp.
Mức độ cao nhất của động cơ hành vi hợp pháp đó chính là niềm tin cá nhân về giá trị xã hội, tính có lợi đối với xã hội, đối với người thân và những người xung quanh của hành vi này.
Cần phải đặc biệt chú ý tới hiện tượng tính tích cực xã hội - pháp luật của cá nhân, đó là hành vi hợp pháp nhưng nó có tính tích cực và tính hiệu quả hơn. Ví dụ như những hành động dũng cảm bắt giữ tội phạm; sử dụng các biện pháp tự vệ cần thiết để bảo vệ người bị hại; đưa ra những kiến nghị có lợi cho việc hoàn thiện pháp luật hoặc là hoàn thiện công tác của cơ quan bảo vệ pháp luật – là hành vi pháp luật tích cực về mặt xã hội. Như vậy hiệu quả nhất chính là những hành động chuẩn của những công dân có thái độ tôn trọng đối với pháp luật, đáp ứng nhu cầu của xã hội và được sự ủng hộ của các nhóm xã hội khác nhau.

3. Hành vi phạm tội

3.1 Định nghĩa

Xem xét vấn đề này chúng tôi xem xét, nhìn nhận tác động và vai trò của chuẩn mực xã hội đối với hành vi của con người, đặc biệt phân tích ở bình diện tác dụng của nó đối với hành vi của con người trong xã hội. Ở góc độ chung nhất có thể nói rằng: Chuẩn mực bao giờ cũng bao hàm các thước đo, khuôn mẫu của hành vi. Vì chuẩn mực chứa đựng các yếu tố đánh giá (tính có ích, mong muốn, cần thiết...) có sự tham gia của trí tuệ, cảm xúc. Chức năng điều tiết của chuẩn mực rất đa dạng: vạch ra mục đích, hay thay đổi mục đích đã đặt ra; cho biết khả năng tối ưu, trách nhiệm, phạm vi hoạt động của cá nhân hoặc nhóm để đạt mục tiêu trong điều kiện nhất định. Ví như chức năng điều tiết của pháp luật thể hiện qua ba phương thức cơ bản: Cho phép, cấm đoán, quy định. Cho phép: chỉ ra phương án hành vi không bị cấm đoán, thường có tính chất mong muốn, nhưng không bắt buộc. Những hành vi loại này có thể tích cực hoặc trung tính. Cấm đoán: chỉ ra hành vi không được làm và đi đôi với sự cấm đoán là sự trừng phạt khi vi phạm vào những điều cấm. Quy định: Chỉ ra hành vi đòi hỏi ở chủ thể, chủ thể được lựa chọn các phương án cũng như hành vi tích cực hay thụ động; sự quy định sẽ hạn chế việc tự do xử lý của chủ thể, trong đa số trường hợp khi thực hiện quy định là sự hòa nhập giữa sự bắt buộc bên ngoài với tinh thần, nghĩa vụ bên trong.
Khi nói đến sự điều tiết của chuẩn mực, không nên chỉ thấy một mặt của sự điều tiết, sự hạn chế một phần sự tự do của chủ thể; hoặc sự gán ép, ép buộc cho chủ thể, ý chí của bộ phận người nào đó, trói buộc, bó tay, bó chân chủ thể theo khuôn mẫu nhất định; mà cần phải thấy mặt chủ yếu của chuẩn mực xã hội là chức năng điều tiết tích cực các quan hệ xã hội.
Các chuẩn mực xã hội chính là các nguyên tắc, những tiêu chuẩn, quy ước mà xã hội đề ra và sử dụng nó như công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội hướng vào sự phát triển và tiến bộ xã hội. Những chuẩn mực đó nếu được cộng đồng chấp nhận (như là truyền thống văn hóa, đạo đức, phong tục, tập quán) trở thành công cụ điều chỉnh hành vi của con người bằng dư luận xã hội. Ở mức độ cao hơn, có những chuẩn mực xã hội được thể chế hóa thành hệ thống pháp luật để quản lý và điều chỉnh xã hội. Rõ ràng, trong xã hội để điều chỉnh các hành vi của con người và quan hệ xã hội có thể thông qua quy phạm pháp luật và các quy phạm khác.
Vậy, tất cả các chuẩn mực xã hội dù chúng thuộc loại nào, nội dung cho phép, cấm đoán hay quy định thì đều định hướng hành vi cho cá nhân, gợi ý cho con người những phương án hành vi ứng xử hợp lý, tối ưu và được tán thành. Nhờ vậy mà chúng ngăn ngừa được tình trạng vô chính phủ, hỗn loạn và phi lý trong hành vi của con người.
Con người muốn tồn tại và phát triển trong xã hội thì cần phải có khả năng thích ứng xã hội. Nơi biểu hiện, thể hiện sự thích ứng xã hội của cá nhân và cộng đồng là hành vi.
Hành vi chuẩn mực hay có tác giả gọi là hành động chuẩn, nhấn mạnh đến sự đáp ứng được những yêu cầu về hành vi đối với cộng đồng. Như vây, hành vi chuẩn mực là sự thể hiện sự thích ứng xã hội của chủ thể.
Những hành vi của một người hoặc nhóm người đi chệch các chuẩn mực xã hội gọi là hành vi lệch chuẩn (hành vi chệch hướng, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội,v.v...). 
Theo từ điển bách khoa Việt nam: Chuẩn mực là thuật ngữ dùng để mô tả những tiêu chuẩn chung hoặc ý tưởng hướng dẫn con người đáp ứng những yêu cầu xã hội. Các cá nhân trong xã hội chấp nhận các chuẩn mực, tuân thủ qua các hành động đơn giản hoặc trong sự phán xét về mặt đạo đức nhằm tăng cường tính thống nhất trong nhóm.
Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam: chuẩn mực xã hội là cái hoặc "ô chừng độ" được xã hội quy định làm mẫu để mọi người đối chiếu".
Hành vi lệch chuẩn là hành vi có ý thức của con người, nhưng hành vi đó không phù hợp với yêu cầu chuẩn mực của xã hội.
Những hành vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm các quy phạm pháp luật hình sự đến mức đáng bị xử lý bằng hình phạt, thì đó là hành vi phạm tội (tội phạm).
Hành vi chỉ bao gồm những biểu hiện của con người ra thế giới khách quan mà mặt thực tế của nó được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển. Vậy hành vi phạm tội là hành vi có lỗi, là thể thống nhất giữa mặt khách quan (hành vi gây thiệt hại) và mặt chủ quan (có lỗi).
Trong khoa học pháp lý hình sự, hành vi phạm tội được hiểu là hành vi có ý thức và ý chí, là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm, đồng thời nó còn được coi như một khái niệm cơ bản nhất của luật hình sự.
Trong luật hình sự Việt Nam, khi xem xét một hành vi là hành vi phạm tội hay không phải dựa vào những dấu hiệu sau:
+ Gây ra sự nguy hiểm cho xã hội, có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
+ Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. 
+ Được quy định trong luật hình sự hay tính trái pháp luật hình sự
+ Chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội và trái pháp luật hình sự. Tội phạm chịu hình phạt có nghĩa là bất cứ hành vi phạm tội nào gây ra sự nguy hiểm cho xã hội đều bị đe dọa phải chịu hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất trong hệ thống biện pháp cưỡng chế nhà nước.
Căn cứ vào nội dung chuẩn mực, có thể chia hành vi lệch chuẩn thành 5 loại:
- Hành vi vi phạm pháp luật
- Hành vi vi phạm chính trị
- Hành vi vi phạm chuẩn mực thẩm mỹ
- Hành vi vi phạm phong tục tập quán
- Hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức, tôn giáo
Căn cứ vào nguồn gốc của hành vi, hành vi lệch chuẩn chia làm hai loại:
- Hành vi lệch chuẩn xã hội: Là hành vi đi chệch các chuẩn mực xã hội của những người có đủ khả năng ý thức điều khiển hành vi.
- Hành vi lệch chuẩn tâm thần: Là hành vi của người bị tâm thần, đi chệch các chuẩn mực xã hội.
Vậy, hành vi phạm tội là những hành vi lệch chuẩn xã hội, vi phạm các quy phạm pháp luật hình sự bị xử lý bằng hình phạt.

3.2 Cơ sở tâm lý của hành vi phạm tội

- Sự xa lạ nhân cách: cơ sở tâm lý của hành động phạm tội. Các nghiên cứu tâm lý tội phạm đã cho thấy rằng phần lớn tội phạm có một khoảng cách tâm lý xã hội nhất định đối với xã hội và các chuẩn mực đạo đức pháp lý. Họ xa lạ với xã hội nói chung và với các nhóm nhỏ (gia đình, bạn bè) hoặc họ đã làm yếu đi mối liên lạc với các nhóm này. Dưới góc độ tâm lý học sự xa lạ được thể hiện là việc con người ra khỏi các mối quan hệ liên nhân cách mà điều này có hậu quả về mặt tâm lý và xã hội, có tính mầm mống tội phạm. Có những khía cạnh xa lạ của nhân cách sau đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu nguyên nhân tâm lý xã hội của hành động phạm tội :
+ Sự xa lạ làm cho con người khó tiếp cận các chuẩn mực xã hội điều tiết hành động. Khi các chuẩn mực này không được cá nhân tiếp nhận, không trở thành bộ phận cấu thành của thế giới nội tâm thì chúng cảm thấy lạ, không có tính bắt buộc đối với cá nhân. Không phải ngẫu nhiên nhiều tội phạm không hiểu rằng vì sao họ bị trừng phạt mặc dù họ biết rằng họ đã vi phạm pháp luật. Do không nhất trí với sự trừng phạt cho nên tác động giáo dục đối với họ đã giảm thiểu mạnh.
+ Sự xa lạ của nhân cách ở giai đoạn tuổi thơ do gia đình không thực hiện những chức năng cơ bản của mình là đưa trẻ tham gia vào cơ cấu xã hội thông qua con đường tiếp thụ các chuẩn mực đạo đức pháp lý theo cơ chế bắt chước cha mẹ. Điều này có thể tạo ra nền tảng của một nhân cách phi xã hội, tách biệt với môi trường xã hội tích cực như gia đình, tập thể học tập lao động và các nhóm khác. Khi không có giáo dục bổ trợ, điều này sẽ dẫn đến các hành vi chống pháp luật và trong nhiều trường hợp sẽ kích thích cá nhân tái phạm.
+ Sự xa lạ của nhân cách có thể dẫn tới tâm thế chống xã hội một cách ổn định (định kiến), thể hiện trong thái độ thù địch đối với môi trường và theo họ môi trường có thể gây cho họ hành vi hung hãn.
+ Sự xa lạ của con người, sự cách li với các môi trường xã hội tích cực, thúc đẩy con người tìm đến các môi trường mà anh ta có thể tìm được sự công nhận mình. Đó là những nhóm có khuynh hướng chống xã hội được cấu thành từ các nhân cách cũng xa lạ và bị phá huỷ về mặt thích ứng. Sự tồn tại lâu dài trong những nhóm này sẽ dẫn tới việc tội phạm hóa nhân cách với những sự suy đồi tiếp theo.
+ Sự cắt đứt các mối quan hệ con người với môi trường bình thường sẽ dẫn tới sự phá huỷ sự kiểm soát của xã hội, không tuân thủ các chuẩn mực hành vi đã được xác định, vướng vào các nhóm chống xã hội (có vai trò là nhóm gần gũi đối với con người) sẽ hình thành việc gắn bó đặc biệt với nhóm này, đồng nhất hóa với nhóm, sẵn sàng thực hiện mọi hành động tội phạm nhóm.
+ Sự cách biệt với những người khác, đóng kín vào trong bản thân đã tạo ra sự nghèo nàn về mặt đạo đức, không có khả năng cảm nhận xúc cảm người khác. Điều này đã tạo ra sự giết người một cách ghê rợn, những loại này thường là nghiện ngập, bị giam giữ trong thời gian dài. Trước kia những người này thích ứng với xã hội nhưng do mất đi sự thích ứng quá dài nên khả năng cảm nhận xúc cảm của người khác đã mất đi. Có hiện tượng nghịch lý là tù nhân tái phạm nhiều lần thì không còn có các mối quan hệ gia đình và có khuynh hướng thích trở lại trại giam. Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học thì sự xa lạ tâm lý của nhân cách có thể xác định như là sự cách biệt với các giá trị xã hội, không có khả năng tham gia vào các mối quan hệ xúc cảm và là kết quả của sự ruồng bỏ về mặt tình cảm, xúc cảm của cha mẹ, từ sự thờ ơ, khoảng cách tâm lý xã hội giữa con người với môi trường, sự nghèo nàn về tâm lý và sự xa lạ được sản sinh từ đó có được xem xét như là nguyên nhân của hành vi phạm tội. Bản thân các nhân tố này nhất định dẫn tới hành vi phạm tội, nhưng chúng hình thành khuynh hướng chung không đáng có của nhân cách, tâm thế định trước các hình thức phản ứng phạm pháp đối với các xung đột cụ thể. 
- Sự lo lắng: Cùng với sự xa lạ của nhân cách, một trong các yếu tố tạo nên mầm mống tội phạm đó là sự lo lắng - sự sợ hãi "không có đối tượng", sự sợ hãi nói chung. Thông thường cơ sở của sự lo lắng đó là các mối hiểm họa mà cá nhân không ý thức được gắn liền với sự mất đi nhu cầu an toàn. Nó thể hiện với tư cách là cảm giác không tự tin, bất lực trước ngoại cảnh, cường điệu hóa sức mạnh và tính đe doạ của ngoại cảnh. Trạng thái này có thể dẫn tới việc rối loạn tổ chức của hành động, thay đổi khuynh hướng của nó. Trong nhiều trương hợp sự lo lắng có khả năng kích thích sự tích cực hành động khi con người bắt đầu cảm thấy cần thiết phải bảo vệ trước mọi người mà anh ta cảm thấy chủ quan như là những nhân tố đe dọa. Hình thức cực điểm của sự lo lắng đó là sợ chết, thông thường phát triển trong trường hợp con cái không được cha mẹ chấp nhận sẽ dẫn đến mất đi cảm giác an toàn, phát sinh nhân cách bị loạn thần kinh mà đặc trưng của nó là cảm giác sợ chết (thường xuyên).
Có những giai đoạn phát triển như sau:
+ Xuất hiện phản ứng lo sợ;
+ Tích tụ cảm xúc vô thức tiêu cực (biểu hiện ngầm);
+ Trạng thái tự kiềm chế đã bị phá hủy và các hành vi bạo lực được bộc lộ đối với môi trường xã hội mà chủ quan họ coi như là thù địch.
Tính mầm mống tội phạm của sự lo sợ thể hiện không những ở chỗ nó là sự lo lắng, cảm giác không được bảo vệ, dễ bị tổn thương mà còn ở chỗ nó qui định tri giác môi trường xung quanh như là xa lạ và thù địch. Theo cơ chế chuyển dịch xúc cảm, những nhân cách này xem xét các chuẩn mực và điều cấm của môi trường là xa lạ và do đó hành vi của họ đã ra ngoài sự kiểm soát của xã hội. Từ việc qui chiếu một cách vô thức mọi khuynh hướng hành vi thù hận và hung hãn đối với thế giới bên ngoài thì cá nhân họ đã coi thế giới là như vậy. Sự xuất hiện lo lắng, cảm giác vô thức về sự mỏng manh của sự tồn tại bản thân, nỗi sợ chết về chất đã phân biệt tội phạm với không tội phạm, là một trong những nguyên nhân cơ bản về mặt hình thức. Con người đã thực hiện hành động tội phạm để quan niệm về vị trí của mình trong thế giới tự giá trị, tự cảm giác không bị phá huỷ, để mà cái tồn tại sinh học và xã hội của nó không mất đi [Nga]
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê