Mỗi quốc gia thường sử dụng nhiều nguồn pháp luật khác nhau như văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp, điều ước quốc tế... Giữa các nguồn pháp luật của quốc gia, đặc biệt là nguồn văn bản quy phạm pháp luật luôn có mối liên hệ ràng buộc lẫn nhau về nội dung cũng như về thứ bậc hiệu lực pháp luật và chúng được tập hợp, sắp xếp thành hệ thống (còn gọi là hệ thống pháp luật thực định).

Hệ thống nguồn pháp luật được xem là tập hợp tất cả các nguồn pháp luật, quan trọng hơn cả là các loại văn bản quy phạm pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau, được sắp xếp một cách thống nhất, phù hợp với nhau vừa theo tỉnh chất của các quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh, vừa theo trật tự thang bậc hiệu lực pháp luật của chủng.

Theo tính chất của các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh có thể tập hợp, sắp xếp các nguồn pháp luật thành các nhóm điều chỉnh một loại quan hệ xã hội có chung tính chất thuộc một lĩhh vực nhất định của đời sống xã hội và thường gọi là nguồn của ngành luật. Tuy nhiên, do một số nguồn pháp luật, đặc biệt là văn bản quy phạm pháp luật có nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nên việc phân định này thường không triệt để và gặp nhiều khó khăn, nhiều khi không thể thực hiện được.

Theo trật tự thứ bậc hiệu lực pháp luật thì các nguồn pháp luật được sắp xếp thành tòa tháp với trật tự nguồn pháp luật có hiệu lực pháp luật cao nhất (Hiến pháp) ở trên cùng, tiếp đến là các nguồn pháp luật khác (văn bản luật thông thường), rồi đến các nguồn pháp luật và văn bản dưới luật (phụ thuộc thẩm quyền và vị trí của các cơ quan đã ban hành ra chúng).

Giữa các nguồn pháp luật luôn có mối liên hệ, ràng buộc theo cả chiều ngang và chiều dọc, nhất là các văn bản cùng quy định, về một vấn đề không được phép chồng chéo, mâu thuẫn với nhau. Các nguồn pháp luật có hiệu lực pháp luật thấp không được trái với các nguồn pháp luật có hiệu lực pháp luật cao. Nếu các nguồn pháp luật có hiệu lực pháp luật khác nhau quy định về cùng một vấn đề mà mâu thuẫn nhau thì thực hiện theo nguồn pháp luật có hiệu lực pháp luật cao hơn hoặc theo thứ tự ưu tiên đối với loại nguồn đó.

Có thể nói mối quan hệ giữa hệ thống quy phạm pháp luật và hệ thống nguồn pháp luật là mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Mặc dù có sự liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng hệ thống quy phạm pháp luật và hệ thống nguồn pháp luật không đồng nhất với nhau. Điều này thể hiện ở chỗ:

- Xem xét hệ thống quy phạm pháp luật là xem xét cấu trúc bên trong của pháp luật, biểu hiện ở việc phân định các quy định pháp luật, còn xem xét hệ thống nguồn pháp luật là xem xét trật tự của các nguồn pháp luật và mối liên hệ giữa chúng.

- Trong hệ thống nguồn pháp luật ngoài việc chứa đựng các quy phạm pháp luật còn có thể chứa cả những nội dung không phải là quy phạm pháp luật như lời nói đầu, các nguyên tắc pháp luật...

- Cấu tạo của hệ thống quy phạm pháp luật không trùng với cấu tạo của hệ thống nguồn pháp luật.

- Hệ thống quy phạm pháp luật có tính khách quan, còn hệ thống nguồn pháp luật mang nhiều yếu tố chủ quan, phụ thuộc ý chí của chủ thể ban hành pháp luật.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)