1. Điểm tương đồng

1.1. Đều chịu sự ảnh hưởng vủa dòng họ Common Law (quá trình thuộc địa hoá của Anh) 

Ở Malaysia, năm 1786 người Anh thiết lập được sự kiểm soát đầu tiền ở Penang vùng lãnh thổ rộng lớn ở Malaysia. Sau đó thì người Anh đã từng bước thực hiện sự kiểm soát khác, các hiệp ước được kí kết giữa Anh và Hà Lan cùng với những hiệp ước được Anh kí kết với các vùng hồi giáo khác ở vùng đất này đã giúp người Anh dần kiểm soát được toàn bộ lãnh thổ Malaysia. Gắn liền với quá trình khai thác về lãnh thổ thì pháp luật Anh đã được tiếp nhận vào Malaysia bằng nhiều hình thức khác nhau, nhưng chủ yếu thông qua các thẩm phán và các nhà lập pháp. Theo đó, các thẩm phán áp dụng các nguyên tắc của Anh trong quá trình xét xử vụ việc, các nhà làm luật khi soạn thảo và ban hành các đạo luật đã đưa các nguyên tắc pháp luật của các thẩm phán áp dụng vào các đạo luật. Bên cạnh đó việc đào tạo các luật gia được đào tạo theo truyền thống Anh và tiếng anh được xem là ngôn ngữ phổ biến trong quốc gia này. Đó là những nhân tố làm cho Malaysia dễ thu nhận Pháp luật Anh.
Ở Singapore, năm 1919 đã bắt đầu chịu sự ảnh hưởng của pháp luật Anh trước khi Anh hoàn toàn kiểm soát Singapore thì quốc đảo này nằm dưới sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa Anh ở Bengal và chính quyền Ấn Độ (lãnh thổ thuộc địa của Anh). Vì thế, pháp luật Anh đã được tiếp nhận bằng 2 cách trực tiếp và gián tiếp vào hệ thống pháp luật ở nước này. Từ 1835-1980 các luật gia của Singapore đã xác định rằng tất cả các luật của Anh bao gồm cả Common Law, Luật Công binh và luật thành văn có hiệu lực từ 27/11/1826 sẽ được áp dụng tất cả ở Singapore. Ngay cả khi trở thành quốc gia độc lập 1963 thì Singapore vẫn tiếp nhận pháp luật Anh theo cách riêng. Ngoài Common Law nhiều đạo luật khác của Anh vẫn được áp dụng với những điều kiện nhất định. Đến 1993 Nghị viện Singapore đã ban hành Luật về áp dụng pháp luật Anh, luật này đã quy định cụ thể những đạo luật của Anh, Common Law và các nguyên tắc công binh sẽ được áp dụng ở Singapore với điều kiện các luật đó phải phù hợp với hoàn cảnh của quốc gia này. Vì vậy, pháp luật Common Law của Anh, các Án lệ, Luật Công bằng,.. đã trở thành nguồn pháp luật ở Malaysia và Singapore.

1.2. Ảnh hưởng của Hồi giáo

Vào cuối thế kì XII đầu thế kỉ XIV ở Đông Nam Á xuất hiện đạo Hồi, sự xuất hiện của đạo Hồi đã có sự ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển pháp luật của Malaysia, Singapore và các quốc gia khác trong khu vực. Ở Malaysia chịu sự ảnh hưởng lớn của đạo Hồi khi cộng đồng Hồi giáo ở quốc gia này có hệ thống pháp luật riêng. Ở Singapore không có đa số người Hồi giáo sinh sống thì vẫn coi luật Hồi giáo là hệ thống pháp luật tách biệt. Vì vậy, pháp luật Hồi giáo trở thành nguồn pháp luật ở cả Malaysia và Singapore.

1.3. Các nguồn khác

Trong nguồn luật của hai quốc gia đều có các án, các văn bản pháp luật, các tác phẩm của các học gia pháp luật. Tuy nhiên các nguồn pháp luật này được áp dụng cụ thể ở từng quốc gia.
Án lệ là nguồn luật được được sử dụng ở cả Malaysia và Singapore do ảnh hưởng của pháp luật Anh, theo nguyên tắc stare decisis yêu cầu thẩm phán phải dựa theo các phán quyết trước đây khi xét xử các vụ án có những tình tiết chính tương tự nhau, các án lệ được ghi chép và có thể thay đổi tùy theo yêu cầu điều kiện cụ thể ở từng đất nước.
Luật thành văn trở thành nguồn pháp luật quan trọng ở 2 quốc gia

2. Điểm khác nhau

2.1. Luật bất thành văn

Ở Singapore, trước năm 1826 các án lệ và luật công bằng của Anh đã từng là một bộ phận pháp luật của nước này, các án lệ được áp dụng một cách tuyệt đối, các nguyên tắc stare decisis được thực hiện chặt chẽ và khắt khe. Tuy nhiên đến năm 1993 Đạo luật về áp dụng pháp luật Anh đã làm giảm sự phụ thuộc của pháp luật thương mại, hoạt động lập pháp tương lai của Singapore vào pháp luật Anh. Đến nay, Singapore vẫn thừa nhận các học thuyết pháp lý của Anh là nguồn quan trọng của luật. Các án lệ của Anh, Malaysia, Ấn Độ và các nước trong khối thịnh vượng chung “có hiệu lực thuyết phục” được toà án Singapore tiếp nhận thực hiện xét xử.
Bên cạnh án lệ còn có các nguồn pháp luật bất thành văn khác như tiền lệ pháp và 1 phần thông lệ. Tiền lệ pháp ở Singapore được chia thành 2 nội dung:
Thứ nhất: Học thuyết phục tùng các tiền lệ: Bắt buộc các toà án cấp dưới phải theo các quyết định của toà án cấp trên và những quyết định của toá án cấp trên có tính hướng dẫn các toà án cấp dưới vận dụng trong các quyết định của mình để xét xử những vụ án tương tự.
Thứ hai: Ratio Desidendi có tính cưỡng chế, bắt buộc vì những phần này thường được hình thành từ những tình tiết cụ thể những nhận xét của thẩm phán về những vấn đề luật pháp không trực tiếp, liên quan đến nội dung tranh chấp và gọi là obiter dicta.
Tập quán pháp: Tại Singapore việc tiếp nhận pháp luật Anh cũng tùy thuộc vào 1 số tiêu chuẩn và phải được sửa đổi để khi áp dụng khong bị ép buộc gò bó hoặc bất bình đẳng. Bên cạnh đó, những yếu tố khác rất quan trọng cần được xen xét đến như: Sự ảnh hưởng của người Hoa, người Mã Lai, người Hinđu, có ảnh hưởng lớn đến văn hoá pháp luật nên trong các quy định về hôn nhân gia đình thì các phong tục tập quán của các dân tộc, tôn giáo của dân cư trong tập quán pháp vẫn được luật pháp công nhận
Ở Malaysia: Án lệ được sử dụng ở Malaysia là các án lệ do toà án cấp cao, toà án phúc thẩm, và toà án Liên Bang ghi chép lại và được sử dụng để xét xử các vụ án. Bên cạnh đó Malaysia có thể sử dụng thể 1 số án lệ của Anh. Ở Malaysia theo Hiến pháp đảm bảo thực thi tự do tôn giáo, trên thực tế tình hình lại không đơn giản, những đạo không phải Hồi giáo phải chịu nhiều hạn chế và hoạt động như xây dựng, lao động và tổ chức các sự kiện tôn giáo của mình tại 1 số bang Hồi giáo.
Người Hồi giáo bị bắt buộc tuân theo quyết định của các Toà án Hồi giáo Sharia, theo PL thì người Hồi giáo không được tự do bỏ đạo, bởi bỏ đạo sẽ liên quan đến Toà án Hồi giáo. Toà án Hồi giáo do các thẩm phán được đào tạo luật HG phân xử. Nói chung 1 người muốn bỏ đạo phải đưa ra tuyên bố theo luật nhưng việc này vẫn chưa được các toà án dân sự công nhận. Người Malaysia có khuynh hướng tôn trọng đức tin tôn giáo của người khác các vấn đề tôn giáo bên trong thường chủ tếu xảy ra trong phạm vi chính trị.
Luật tập quán: Malaysia là đất nước đa sắc tộc do có sự hoà trộn của nhiều nền văn hoá: Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ, và nền văn hoad bản địa vì vậy luật tập quán ở quốc gia này rất được coi trọng.
Đào tạo luật và nghề luật, đào tạo luật ở quốc gia này là 4 năm và cần thực hành nghề luật sư là 9 tháng, hồi giáo cũng trở thành một môn học lớn ở một số trường còn 1 số trường họ eve hồi giáo chỉ là môn tự chọn.

2.2. Luật thành văn

Ở Singapore: Luật thành văn bao gồm Hiến pháp, VBPL, văn bản dưới luật,... Trở nên ngày càng quan trọng trong nguồn của pháp luật. Hiến pháp (1992) là đạo luật cao nhất của Quốc hội đề ra những nguyên tắc cơ bản, khung pháp lý gốc của nhà nước, chính quyền và quyền cơ bản của cá nhân, bất kì đạo luật nào của Nghị viện ban hành trái với HP sẽ bị coi là vô hiệu hoặc tùy mức độ sẽ bị tuyên hủy. VBPL gồm tất cả các đạo luật do Nghị viện ban hành và 1 số đạo luật Anh đã được Singapore tiếp nhận cho áp dụng. Các VBPL được phổ biến rộng rãi, thường xuyên được xem xét sửa đổi, bổ sung, cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội. Văn bản dưới luật làm cho quá trình và thời gian làm luật nhanh hơn do được cụ thể hoá các luật bằng những văn bản dưới luật mà không cần đưa vào luật quá nhiều nội dung chi tiết, VB dưới luật chi tiết hoá nội dung, giải thích và hướng dẫn việc thực hiện.
Ở Malaysia: Hiến pháp là luật tối cao, bao quát toàn bộ bộ máy nhà nước, quyền lực Liên Bang, Bang, quyền tự do cá nhân, quyền con người, quyền tín ngưỡng,.... Song những quyền liên quan đến tự do cá nhân không phải quyền tuyệt đối mà là quyền có giới hạn trong khuôn khổ của Hiến pháp. Ở mỗi bang đều có chính quyền của mình, có cơ quan lập pháp, hành pháp, nhưng không có ngành tư pháp (ngành tư pháp nằm trong danh mục Liên Bang). Các điểu khoản được hình thành trong HP dựa theo sự thoả thuận giữa chính quyền Anh và chính quyền Malaysia khi đất nước này mới giành được độc lập sau này Quốc hội thay đổi cho phù hợp với tình hình đất nước. Hiến pháp Malaysia quy định các đạo luật và văn bản dưới luật khác phải tuân thủ theo HP nếu không hợp hiến đều có thể bị bãi bỏ, chất vấn, trong toá án đóng vai trò hết sức quan trọng.
Sở dĩ có những điểm giống nhau là do cấu trúc hệ thống pháp luật của Malaysia và Singapore đều bắt nguồn từ dòng họ Comon Law do quá trình khai thác thục địa của Anh, và một phần ảnh hưởng của Hồi giáo.
Nguyên nhân của những điểm khác biệt có rất nhiều yếu tố tác động như: Vị trí địa lý, dân cư, lịch sử, chế độ chính trị. Tuy nhiên một cách tổng quát thì có thể xác định những điểm khác biệt trong hệ thống pháp luật cũng như nguồn luật Malaysia và Singapore như sau:
Thứ nhất: Malaysia và Singapore là 2 quốc gia độc lập, có bộ máy nhà nước riêng, có sự khác nhau về kinh tế, văn hoá, chính trị nên sẽ ảnh hưởng phần nào đến hệ thống pháp luật của 2 quốc gia.
Thứ hai: Do ảnh hưởng của nguồn dân cư, ảnh hưởng của các nên văn hoá, tôn giáo nên tư duy pháp lý sẽ khác nhau.
Thứ ba: Các luật thành văn và luật bất thành văn sẽ được áp dụng và điều chỉnh để phù hợp với tình hình cụ thể ở từng đất nước.
Tóm lại, mặc dù 2 quốc gia đều theo dòng họ Comon Law nhưng giữa 2 hệ thống pháp luật luôn tồn tại những điểm khác biệt, sự khác biệt đó được hình thành do những điều kiện, nhân tố, hay những bản sắc riêng của từng quốc gia tạo nên những hệ thống pháp luật riêng ở mỗi nước.
 

Trên đây là bài viết sưu tầm và tổng hợp về So sánh và giải thích về sự tương đồng và khác biệt về nguồn pháp luật  giữa Malaysia và Singapore.. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê