Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Hiến pháp năm 2013;

Bộ luật dân sự năm 2015;

Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Luật thương mại năm 2005;

Luật Điều ước quốc tế 2016;

Các văn bản pháp luật chuyên ngành.

2. Nguồn của pháp luật là gì?

Trong khoa học pháp lí ở Việt Nam hiện nay, tồn tại một số quan niệm khác nhau về nguồn của pháp luật. Chẳng hạn, có quan niệm cho rằng, nguồn của pháp luật là tất cả những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, thực hiện pháp luật, cũng như áp dụng để giải quyết những vụ việc pháp lí xảy ra trong thực tiễn. Theo quan điểm này, nguồn của pháp luật bao gồm nguồn nội dung và nguồn hình thức. Nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên, chất liệu làm nên các quy định cụ thể cùa pháp luật. Đó chính là các yếu tố kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức... của đời sống. Tuy nhiên, trong khoa học pháp lí cũng như trong thực tiễn, vấn đề nguồn nội dung của pháp luật nhìn chung không có nhiều ý nghĩa, vì thế nó ít được đề cập. Ngược lại, vấn đề nguồn hình thức của pháp luật luôn được quan tâm cả trên bình diện nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn. Chính vì vậy, từ sau đây, trong phạm vi giáo trình này, vấn đề nguồn của pháp luật chỉ được đề cập trên khía cạnh nguồn hình thức của nó.

Có thể quan niệm, nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tổ chứa đựng hoặc cung cẩp căn cứ pháp lí đế các chủ thể thực hiện hành vi thực tế. Nói cách khác, nguồn của pháp luật là tât cả các yếu tố chứa đựng hoặc cung cấp căn cứ pháp lí cho hoạt động của cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thấm quyền cũng như các chủ thể khác trong xã hội.

3. Các nguồn chủ yếu của pháp luật về hợp đồng Việt Nam bao gồm những gì?

Các nguồn của pháp luật về hợp đồng đuợc quy định rải rác ở nhiều văn bản khác nhau và không được quy định chủ yếu ở một văn bản tập trung. Khác với pháp luật về doanh nghiệp với các quy định quan trọng nhất và chi tiết được quy định tập trung ở Luật Doanh nghiệp 2014, pháp luật về hợp đồng không có một đạo luật riêng. Thay vào đó, pháp luật về hợp đồng được quy định chủ yếu trong chế định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005. Ngoài ra, Việt Nam cũng có các luật chuyên ngành có quy định liên quan về hợp đồng. Với sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới cũng như những thay đổi luật gần đây, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và án lệ cũng là nguồn quan trọng và có ảnh hưởng to lớn trong pháp luật về hợp đồng.

Hiện nay, các nguồn chủ yếu của pháp luật về họp đồng Việt Nam bao gồm: văn bản pháp luật chung áp dụng cho các loại hợp đồng, văn bản pháp luật chuyên ngành áp dụng cho một số loại hợp đồng cụ thể, điều ước quốc tế, tập quán, án lệ và lẽ công bằng. Hai loại nguồn đầu tiên là các nguồn truyền thống của pháp luật về hợp đồng. Bốn loại nguồn sau không hoàn toàn rõ ràng có phải là nguồn của pháp luật về họp đồng hay không nhưng có cơ sở pháp lý để kết luận đây cũng là các nguồn của pháp luật nói chung và của pháp luật về hợp đồng nói riêng.

Ngoài các nguồn pháp luật kể trên, việc phân tích pháp luật về họp đồng có thể dựa vào các nguồn tra cứu khác bao gồm bản án và quyết định của tòa án không phải là án lệ, dự thảo văn bản pháp luật sẽ ban hành, quan điểm của cơ quan nhà nước, thông tin công khai trên Internet, sách báo pháp lý chuyên ngành và ý kiến của các cá nhân, tổ chức có chuyên môn liên quan. Đây là các nguồn cũng được sử dụng để phân tích các vấn đề pháp lý trình bày trong cuốn sách này.

3.1 Văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật chuyên ngành:

Hiểu một cách đơn giản, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản pháp luật chứa đựng quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với các đối tượng điều chỉnh của văn bản pháp luật đó trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 là các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng nhất liên quan đến hợp đồng. Các văn bản quy phạm pháp luật cũng bao gồm các luật chuyên ngành được phân tích trong cuốn sách này như Bộ luật Bộ luật Lao động 2019, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, Luật Đất đai 2013, Luật Xây dựng 2014, Luật Bảo vệ người tiêu dùng 2010, Luật Doanh nghiệp 2020 và Luật Đầu tư 2020.

Ngoài các văn bản quy phạm pháp luật, cũng cần lưu ý là trên thực tế, các cơ quan nhà nước và người có thấm quyền ban hành rất nhiều văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật. Nếu được ban hành đúng thẩm quyền và có nội dung phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật đều có hiệu lực bắt buộc và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Neu không được ban hành đúng thẩm quyền hoặc có nội dung không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật có thể không có hiệu lực bắt buộc và không được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

Tại thời điểm hiện nay, chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng để khẳng định văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật có phải là một nguồn của pháp luật về hợp đồng hay không. Đứng từ góc độ lý thuyết, dường như quan điểm của một số học giả là hệ thống văn bản pháp luật chỉ bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật. Quan điểm này phần nào cũng được thể hiện tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 khi hướng dẫn việc áp dụng tương tự pháp luật. Như phân tích dưới đây, pháp luật được áp dụng tương tự dường như chỉ bao gồm văn bản quy phạm pháp luật mà không bao gồm văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật. Giới hạn áp dụng pháp luật tương tự như vậy thể hiện quan điểm hệ thống văn bản pháp luật chỉ bao gồm văn bản quy phạm pháp luật.

Đứng từ góc độ thực tế, việc văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật có là nguồn của pháp luật về hợp đồng hay không đôi khi không quá quan trọng và chỉ có ý nghĩa về lý thuyết. Mặc dù không chứa đựng các quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt buộc chung như văn bản quy phạm pháp luật hoặc chứa đựng các quy tắc xử sự chung nhưng không được ban hành theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, văn bản hành chính
và văn bản áp dụng pháp luật lại có giá trị rất lớn trong việc giải thích và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Theo ý kiến cá nhân của tác giả, trong những trường hợp cụ thể phù hợp, văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật có thể được coi là một nguồn của pháp luật về hợp đồng vì giá trị và thông lệ áp dụng trên thực tế của các văn bản này. Tuy nhiên, đây không nên coi là một nguyên tắc áp dụng phổ quát trên thực tế vì như vậy có thể làm mất đi giá trị của các văn bản quy phạm pháp luật.

3.2 Điều ước quốc tế, tập quán, án lệ và lẽ công bằng

Điều ước quốc tế ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quan hệ với hệ thống pháp luật trong nước. Hiện nay, chưa có một văn bản pháp luật nào khẳng định rõ ràng điều ước quốc tế là một nguồn của pháp luật về hợp đồng. Tuy nhiên, theo Luật Điều ước quốc tế 2016, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên sẽ được ưu tiên áp dụng trong trường hợp pháp luật Việt Nam (ngoại trừ Hiến pháp 2013) và điều ước quốc tế có quy định khác nhau về cùng một vấn đề mà không cần sửa đổi pháp luật trong nước. Từ việc cho phép ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế so với pháp luật trong nước (ngoại trừ Hiến pháp 2013), có thể suy luận là điều ước quốc té đã trở thành một nguồn của pháp luật về hợp đồng. Để được áp dụng, điều ước quốc tế phải có nội dung điều chỉnh về quan hệ hợp đồng và đáp ứng một số điều kiện được quy định trong pháp luật Việt Nam.

Cũng tương tự như điều ước quốc tế, chưa có một văn bản pháp luật nào khắng định tập quán là một nguồn của pháp luật về hợp đồng. Mặc dù vậy, trong quan hệ hợp đồng, việc áp dụng tập quán để giải thích khi pháp luật không quy định về một vấn đề cụ thể là một nguyên tắc đã được thừa nhận từ lâu. Do vậy, cũng có thể suy luận là tập quán có nội dung điều chỉnh về quan hệ hợp đồng và đáp ứng một số điều kiện theo pháp luật Việt Nam để được công nhận là một nguồn của pháp luật về hợp đồng.

Với các quy định gần đây của Bộ luật Dân sự 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, đã có cơ sở để thừa nhận án lệ là một nguồn của pháp luật về hợp đồng. Cụ thể, toà án sẽ phải áp dụng các lập luận, kết luận của các bản án, quyết định trước đó của toà án đã được Chánh án TANDTC công bố là án lệ để giải quyết các các vụ việc tương tự nhằm đảm bảo việc áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử.

Ngoài các loại nguồn kể trên, cũng có cơ sở pháp lý để kết luận là lẽ công bằng cũng là một nguồn của pháp luật.

Các nguồn khác nhau được áp dụng trên thực tế theo các phương pháp khác nhau. Nói một cách khái quát, việc áp dụng các văn bản pháp luật, điều ước quốc té và tập quán sử dụng phương pháp suy diễn, tức là các chủ thể áp dụng pháp luật dựa vào các quy phạm hoặc quy tắc mang tính khái quát để suy luận xem các quy phạm hoặc quy tắc đó sẽ áp dụng cho trường họp cụ thể như thế nào.

Trong khi đó, việc áp dụng án lệ sử dụng phương pháp quy nạp, theo đó các chủ thể áp dụng pháp luật căn cứ vào các lập luận và kết luận của toà án trong một vụ việc cụ thể để suy luận xem các lập luận và kết luận đó tạo thành nguyên tắc pháp lý khái quát gì ảnh hưởng đến vụ việc được xem xét.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê