Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Luật Điều ước quốc tế 2016;

- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 ;

- Bộ luật Dân sự 2015;

- Công ước Vienna 1980, Hiệp định TRIPS 1994;

- Luật Thương mại 2005.

1. Nguyên tắc 1 - Ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế so với văn bản pháp luật trong nước

Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên được ưu tiên áp dụng so với văn bản pháp luật trong nước (trừ Hiến pháp) mà không cần thiết phải sửa đổi văn bản pháp luật trong nước. Nguyên tắc trên được quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Điều ước quốc tế 2016:

“1. Trường hợp văn bân quy pham pháp luât và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy đinh khác nhau về cùng môt vẩn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiển pháp.”

Quy định tại Điều 6.1 của Luật Điều ước quốc tế 2016 cũng được quy định tương tự tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 và Bộ luật Dân sự 2015.

Khoản 1 Điều 6.1 của Luật Điều ước quốc tế 2016 giải quyết xung đột pháp luật giữa điều ước quốc tế và bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật trong nước (trừ Hiến pháp 2013), kể cả các văn bản quy phạm pháp luật là nguồn của pháp luật về hợp đồng. Mặc dù các quy định này chi áp dụng với văn bản quy phạm pháp luật, có thể suy luận là các quy định trên cũng áp dụng đối với văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật. Nói một cách rộng hơn, nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế áp dụng đối với cả văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật.

Như đã trình bày ở trên, Việt Nam hiện nay đã chính thức trở thành thành viên của một số điều ước quốc tế liên quan đến họp đồng là Công ước Vienna 1980, Hiệp định TRIPS 1994 cũng như nhiều điều ước quốc té song phương. Nhìn chung, các quy định về hợp đồng trong các điều ước quốc tế nêu trên chủ yếu điều chỉnh về các vấn đề như giao kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, biện pháp xử lý vi phạm hợp đồng và cơ quan giải quyết tranh chấp. Các quy định trên được ưu tiên áp dụng đối với các văn bản pháp luật trong nước (trừ Hiến pháp 2013).

2. Nguyên tắc 2 - Ưu tiên áp dụng tập quán quốc tế so với văn bản pháp luật trong nước

Về nguyên tắc, trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, các bên có quyền lựa chọn áp dụng tập quán quốc tế khi đáp ứng đủ hai điều kiện là điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc luật Việt Nam có quy định các bên có quyền lựa chọn, và hậu quả của việc áp dụng tập quán quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Như vậy, có thể suy luận rằng tập quán quốc tế có thể được ưu tiên áp dụng so với pháp luật Việt Nam (bao gồm văn bản quy phạm pháp luật và có lẽ cả văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật) trong trường hợp các bên thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc văn bản pháp luật Việt Nam. Theo đó, việc áp dụng tập quán quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên phải đảm bảo không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

3. Nguyên tắc 3 - Ưu tiên áp dụng luật riêng so vói luật chung

Nguyên tắc pháp lý thường được dẫn chiếu khi nói về quan hệ giữa Bộ luật Dân sự 2015 và luật chuyên ngành là quan hệ giữa “luật chung” và “luật riêng” trong đó Bộ luật Dân sự 2015 là “luật chung” và luật chuyên ngành được coi là “luật riêng.” Trong quan hệ giữa “luật chung” và “luật riêng”, luật chuyên ngành với tư cách là “luật riêng” được ưu tiên áp dụng với điều kiện là không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015, nếu trái thì các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 sẽ được áp dụng. Nguyên tắc pháp lý này được luật hoá tại khoản 2 Điều 4 và khoản 3 Điều 4 của Bộ luật Dân sự 2015:

“2. Luât khác có liên quan điều chỉnh quan hệ dân sự trong các lĩnh vực cụ thể không đươc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luât dân sư quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

3. Trường hợp luật khác có liên quan không quy định hoặc có quy đinh nhưng vi pham khoản 2 Điều này thì quy định của Bô luât này đươc áp dung.”

Điều 4 của Luật Thương mại 2005 cũng quy định quan hệ giữa Luật Thương mại 2005 với Bộ luật Dân sự 2015 và các luật chuyên ngành khác:

“1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luât thương mai và pháp luât có liên quan.

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy đinh trong luât khác thì áp dung quy đinh của ĩuât đó.

3. Hoạt động thương mại không đươc quy đinh trong Luât thương mai và trong các luât khác thì áp dung quy đinh cùa Bô luât dân sư.”

Tinh thần quy định tại Luật Thương mại 2005 cũng phù hợp với Bộ luật Dân sự 2015. Theo các quy định này, trong quan hệ giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương mại 2005 đối với hợp đồng thương mại, Bộ luật Dân sự 2015 đóng vai trò là luật chung và Luật Thương mại 2005 đóng vai trò là luật riêng. Ngoài ra, nếu Luật Thương mại 2005 không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015 thì Bộ luật Dân sự 2015 sẽ áp dụng.

Nếu luật chuyên ngành đặc thù không quy định thì áp dụng Luật Thương mại 2005. Nếu Luật Thương mại 2005 không quy định thì áp dụng Bộ luật Dân sự 2015. Trong các trường hợp trên, quy định của luật áp dụng riêng cho hoạt động thương mại đặc thù và Luật Thương mại 2005 đều không được trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự 2015 (xem thêm từ đoạn 3-45 đến đoạn 3-52).

Hợp đồng dân sự điều chinh bời Bộ luật Dân sự 2015

Hợp đồng thương mại điều chỉnh bời Luật Thương mại 2005

Hợp đồng thương mại chuyên ngành được điều chinh bời luật chuyên ngành.

4. Nguyên tắc 4 - Ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn

Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật giữa các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau được quy định tại khoản 2 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015:

“2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quỵ đinh khác nhau về cùng môt vấn đề thì áp dụng vãn băn có hiêu lưc pháp lý cao hơn.”

Theo quy định trên tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, trong trường hợp các văn bản pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng “văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.” Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và trật tự hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp được quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015. Các văn bản quy phạm pháp luật gôm mười lăm loại, cao nhât là Hiên pháp, sau đó đên bộ luật, luật và nghị quyết của Quốc hội và dưới đó là các loại văn bản dưới luật. Ngoài các văn bản khác, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng, thông tư của NHNN, TANDTC và các bộ, và nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là văn bản dưới luật. Các văn bản pháp luật được ưu tiên áp dụng theo trình tự hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp như trên. Một điểm cần lưu ý là bộ luật (như Bộ luật Dân sự 2015) và luật (như Luật Thương mại 2005) được xếp ngang hàng và việc xử lý xung đột giữa các bộ luật và luật cần được xem xét thêm trên cơ sở nguyên tắc 3 về việc ưu tiên áp dụng luật riêng so với luật chung và nguyên tắc 5 về việc ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật được ban hành sau.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không quy định nguyên tắc áp dụng trong trường hợp hai văn bản dưới luật có hiệu lực pháp lý cao như nhau do hai cơ quan ngang cấp ban hành thì áp dụng văn bản nào. Trong trường hợp một thông tư do Bộ Công thương ban hành hướng dẫn quy định của Luật Thương mại 2005 có quy định trái với quy định của một thông tư do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành hướng dẫn Luật Quảng cáo 2012 thì sẽ không rõ thông tư nào được áp dụng. về logic, có thể suy luận theo nguyên tắc 3 là nếu luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng, văn bản hướng dẫn luật chuyên ngành (trong trường họp này là Luật Quảng cáo 2012) cũng có thể được ưu tiên áp dụng so với một văn bản cùng cấp hướng dẫn luật chung (trong trường họp này là Luật Thương mại 2005).

5. Nguyên tắc 5 - Ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật được ban hành sau

Khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định nguyên tắc xử lý xung đột giữa các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành:

“Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quỵ đinh khác nhau về cùng môt vẩn để thì áp dụng quy định của văn bàn quỵ pham pháp luât ban hành sau.”

Theo nguyên tắc này, nếu không có một nguyên tắc xung đột nào khác áp dụng (ví dụ luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với Bộ luật Dân sự 2015), Bộ luật Dân sự 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành trước thời điểm ban hành Bộ luật Dân sự 2015 và không được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành sau thời điểm ban hành Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp có xung đột. Đây là nguyên tắc đặc biệt quan trọng và thường được xem xét cùng nguyên tắc 3 (ưu tiên áp dụng luật riêng so với luật chung). Nếu áp dụng hai nguyên tắc này cùng với nhau thì cần lưu ý là trong trường hợp bản thân luật ban hành sau có quy định nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật riêng so với luật chung thì cần ưu tiên áp dụng luật riêng đó. Ví dụ, Bộ luật Dân sự 2015 ban hành sau Luật Thương mại 2005 nhưng bản thân Bộ luật Dân sự 2015 cho phép ưu tiên áp dụng luật khác điều chỉnh quan hệ dân sự cụ thể (như quan hệ thương mại) nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, mặc dù Luật Thương mại 2005 được ban hành trước. Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Bộ luật Dân sự 2015 liên quan đến các vấn đề phát sinh từ hợp đồng thương mại nếu quy định của Luật Thương mại 2005 không trái với các nguyên tăc cơ bản của Bộ luật Dân sự 2015.

6. Nguyên tắc 6 - Ưu tiên áp dụng văn bản QPPL so với văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật

Như trình bày ở trên, hiện nay chưa có văn bản cụ thể quy định hệ thống văn bản pháp luật bao gồm những loại văn bản nào. Hai loại văn bản thường được đề cập là văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật.

Tại thời điểm hiện nay, do vai trò và vị trí của văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật chưa rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nguyên tắc để xử lý xung đột giữa văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật cũng chưa rõ ràng. Nguyên tắc để giải quyết xung đột trên có thể được suy luận dựa trên giá trị hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Điều 155 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 quy định hiệu lực không gian của văn bản quy phạm pháp luật:

“1. Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở trung ương cỏ hiêu lưc trong pham vi cả nước và đươc áp dung đối với moi cơ quan, tố chức, cá nhân trừ trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

2. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở đơn vị hành chính nào thì có hiêu lưc trong pham vi dơn vi hành chính đó và phải đươc quy đinh cu thể ngay trong văn bản đó. [...].”

Theo quy định của Điều 155 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương có hiệu lực không gian trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở địa phương có hiệu lực không gian trên phạm vi đơn vị hành chính. Trong cả hai trường hợp, văn bản quy phạm pháp luật áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa lý có liên quan.

7. Nguyên tắc 7 - Ưu tiên áp dụng văn bản pháp luật so với án lệ

Án lệ đã trở thành một nguồn mới của pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật về hợp đồng. Do đây là nguồn mới của pháp luật, dường như chưa có quy định đê giải quyêt xung đột giữa án lệ và văn bản pháp luật. Khi quy định vê việc áp dụng án lệ, Nghị quyết 04/2019 có các quy định ám chỉ vị trí của án lệ trong hệ thông pháp luật. Điêu 9.1 của Nghị quyết 04/2019 quy định:

“1. Án lệ đương nhiên bị bãi bỏ trong trường hợp án lệ không còn phù hợp do có sư thay đồi cùa pháp luât.”

Các quy định tại Điều 9.1 của Nghị quyết 04/2019 cho phép không áp dụng án lệ và án lệ đương nhiên bị hủy bỏ nếu do có sự thay đổi của pháp luật mà án lệ không còn phù hợp. Có thể suy luận là văn bản pháp luật có giá trị cao hơn và được ưu tiên áp dụng so với án lệ.

Theo nguyên tắc trên, văn bản quy phạm pháp luật được ưu tiên áp dụng so với án lệ. Điều kém rõ ràng hơn là liệu văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật có được ưu tiên áp dụng so với án lệ không và khi có thay đổi văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật làm án lệ không còn phù hợp thì án lệ có mặc nhiên bị hủy bỏ không. Do việc áp dụng án lệ còn mới trên thực tiễn, khó có thể khái quát hóa là án lệ hay và văn bản hành chính và văn bản áp dụng pháp luật được ưu tiên áp dụng

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê