- 1. Luật Nhà nước (Constitutional Law) (còn gọi là Hiến pháp – luật gốc)
- 2. Luật hành chính (Administrative Law)
- 3. Luật tài chính (Finance Law)
- 4. Luật đất đai (Land Law)
- 5. Luật dân sự (Civil Law)
- 6. Luật lao động (Labour Law)
- 7. Luật hôn nhân và gia đình (Marriage and Family Law)
- 8. Luật hình sự (Criminal Law)
- 9. Luật tố tụng hình sự (Criminal Procedure Law)
- 10. Luật tố tụng dân sự (Civil Procedure Law)
- 11. Luật kinh tế (Economic Law)
- 12. Luật quốc tế (International Law)
- Quy trình lập pháp
- Hiến pháp Lào năm 1991
Hệ thống pháp luật Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc, định hướng và mục đích của pháp luật có mối liên hệ mật thiết và thống nhất với nhau, được phân định thành các ngành luật, các chế định pháp luật và được thể hiện trong các văn bản do cơ quan nhà nước Việt Nam có thẩm quyền ban hành theo những hình thức, thủ tục nhất định để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trên lãnh thổ Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam có hệ thống pháp luật phức tạp nhất thế giới, hệ thống này được đặc trưng bởi sự đồ sộ, rườm rà, rắc rối nhưng lại có quá nhiều kẻ hở và lỗ hổng, một hệ thống quy định chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu đồng bộ gây cản trở và đè nặng lên người dân, doanh nghiệp, một hệ thống pháp luật thiếu tính thực tiễn, không có tính khả thi, thiếu sự minh bạch và không đi vào cuộc sống do quá trình xây dựng pháp luật thiếu tư duy, tầm nhìn...
Dưới đây là 12 ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam:
1. Luật Nhà nước (Constitutional Law) (còn gọi là Hiến pháp – luật gốc)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản về tổ chức quyền lực Nhà nước về chế độ chính trị, về chế độ kinh tế, văn hoá - xã hội, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quy định tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước trong bộ máy Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là ngành luật được coi là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tất cả các ngành luật khác đều được hình thành trên cơ sở những nguyên tắc của luật Nhà nước và không trái với Hiến pháp.
2. Luật hành chính (Administrative Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các Quan hệ xã hội hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành điều hành của Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội.
3. Luật tài chính (Finance Law)
Là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Bao gồm các chế định sau: luật ngân sách Nhà nước, chế định thu, chi ngân sách Nhà nước, chế định về tài chính doanh nghiệp, bảo hiểm thương mại, tín dụng và thanh toán.
4. Luật đất đai (Land Law)
Là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình quản lý vag sử dụng đất đai, khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là chủ sở hữu duy nhất, mặt khác cũng quy định chế độ quản lý, sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
5. Luật dân sự (Civil Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản dưới hình thức hành hoá tiền tệ và một số quan hệ nhân thân dựa trên nguyên tắc: tự định đoạt, bình đẳng quyền khởi tố dân sự và trách nhiệm vật chất của các bên tham gia quan hệ đó. Nội dung luật dân sự bao gồm các chế định quy định về: quyền sở hữu, hợp đồng dân sự, quyền thừa kế, quyền tác giả, quyết phát minh sáng chế.
6. Luật lao động (Labour Law)
Là ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật, gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động. Các quy phạm pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội.
7. Luật hôn nhân và gia đình (Marriage and Family Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản phát sinh do việc kết hôn giữa nam và nữ. Như điều kiện kết hôn, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái. Nhằm mục đích đảm bảo hôn nhân tự do, tiến bộ, đảm bảo quyền bình đẳng nam nữ xây dựng gia đình hạnh phúc, bảo vệ lợi ích của bà mẹ trẻ em, chăm sóc, giáo dục con cái.
8. Luật hình sự (Criminal Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật quy định hành vi nào là tội phạm, mục đích hình phạt, điều kiện áp dụng hình phạt và mức độ hình phạt đối với người có hành vi phạm tội.
9. Luật tố tụng hình sự (Criminal Procedure Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc điều tra, xét xử là kiểm soát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử những vụ án hình sự.
10. Luật tố tụng dân sự (Civil Procedure Law)
Là ngành luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các cơ quan xét xử, viện kiểm sát nhân dân các cấp, đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, xét xử các vụ tranh chấp dân sự. Các quy phạm pháp luật của tố tụng dân sự quy định thẩm quyền, trình tự thủ tục xét xử và những vấn đề khác nhằm giải quyết đúng đắn việc tranh chấp dân sự.
11. Luật kinh tế (Economic Law)
Với tư cách là một ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, luật kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của các loại doanh nghiệp ký kết hợp đồng kinh tế, về phá sản doanh nghiệp, về giải quyết các tranh chấp kinh tế.
12. Luật quốc tế (International Law)
Là ngành luật gồm các quy phạm pháp luật được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa các quốc gia với nhau nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các nước trong quá trình đấu tranh và hợp tác lẫn nhau. Luật quốc tế bao gồm hai bộ phận: Công pháp quốc tế và Tư pháp quốc tế.
Có thể khái quát hoạt động lập pháp của Quốc hội nước CHDCND Lào thành 2 giai đoạn chính sau đây: Giai đoạn từ 1975 – 1991 (Hội đồng nhân dân tối cao khóa I, II), hoạt động lập pháp chưa có cơ sở pháp lý quy định về quy trình lập pháp. Quá trình lập pháp từ khâu lập chương trình xây dựng luật, chuẩn bị dự thảo luật, trình dự thảo luật cho đến việc thông qua và công bố luật về căn bản là nhiệm vụ của Uỷ ban thường vụ Hội đồng nhân dân tối cao, nhưng có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng Bộ trưởng. Bộ trưởng Bộ Tư pháp là người đại diện Hội đồng Bộ trưởng tham gia trực tiếp vào tất cả các khâu của quá trình xây dựng dự thảo luật và đứng ra trình dự thảo luật tại kỳ họp Hội đồng nhân dân tối cao. Giai đoạn từ 1992 đến nay (Quốc hội khóa III, IV, V), hoạt động lập pháp được tiến hành theo thủ tục và quy trình lập pháp quy định trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội.
Quy trình lập pháp
1. Kiến nghị xây dựng luật và soạn thảo dự án luật: Có 6 loại chủ thể có quyền kiến nghị xây dựng luật, đó là Chủ tịch nước; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Mặt trận Lào xây dựng đất nước và các tổ chức quần chúng cấp Trung ương. Các tổ chức và cá nhân có quyền kiến nghị xây dựng luật, trước khi tiến hành soạn thảo phải có tờ trình chính thức gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, nêu rõ mục đích, yêu cầu và lý do về soạn thảo luật hoặc sửa đổi luật đó.
2. Hoàn thành soạn thảo dự án luật. Khi hoàn thành việc soạn thảo, dự luật phải được gửi đến Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét chậm nhất 60 ngày trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp.
3. Cho ý kiến và thảo luận dự án luật: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội giao dự thảo luật hoặc dự thảo sửa đổi luật đó cho Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội và các Uỷ ban liên quan nghiên cứu, xem xét và báo cáo kết quả cho Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định đưa dự thảo luật hoặc dự thảo sửa đổi luật đó tham khảo ý kiến của nhân dân trước khi trình Quốc hội xem xét và thông qua.
4. Trình dự án luật: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thể giao cho Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội hoặc người đại diện tổ chức soạn thảo dự luật đó trình dự thảo tại kỳ họp Quốc hội để Quốc hội xem xét và thông qua. 5. Thảo luận và thông qua dự thảo luật: Tại phiên họp thảo luận về dự thảo luật, Chủ tọa phiên họp nêu quan điểm, nội dung, phương pháp thảo luận, góp ý kiến của Đại biểu Quốc hội đối với dự thảo luật hoặc dự thảo sửa đổi luật. Đại diện Đoàn Thư ký kỳ họp Quốc hội đọc nội dung các dự thảo này tại kỳ họp Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thảo luận, góp ý kiến theo từng chương, từng điều của dự thảo. Đoàn thư ký kỳ họp Quốc hội tiếp thu ý kiến của Đại biểu Quốc hội, soạn lại nội dung dự thảo luật, sau đó đọc lại tại kỳ họp Quốc hội. Chủ tọa phiên họp sẽ cho tiến hành biểu quyết thông qua từng điều của bản dự thảo luật.
6. Công bố luật: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trình Chủ tịch nước xem xét và ra công bố chính thức văn bản pháp luật được Quốc hội thông qua. Văn bản pháp luật mà Quốc hội đã thông qua phải được Chủ tịch nước công bố chậm nhất không quá 30 ngày kể từ ngày thông qua luật đó. Trong thời gian này, Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội xem xét lại nếu thấy có điều chưa hợp lý. Đối với văn bản pháp luật đưa ra xem xét lại, nếu Quốc hội tiếp tục khẳng định theo Nghị quyết đã thông qua thì Chủ tịch nước phải công bố chậm nhất không quá 15 ngày tiếp đó.
Hiến pháp Lào năm 1991
Hiến pháp Lào là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, được thông qua ngày 14/8/1991 tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng Nhân dân Tối cao khóa 2. Hiến pháp gồm 80 điều và 10 chương. Hiến pháp Lào tuyên bố Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào quyền lực thuộc về người dân, trong đó nông dân, công nhân và trí thức là nòng cốt.
Hiến pháp năm 1991 của Lào chứa nhiều yếu tố của cuộc cách mạng trước đó, cởi mở trong việc tự do kinh tế và chính trị hóa, cũng như việc thay đổi chính sách đối ngoại với các quốc gia truyền thống và cựu thù, các nguyên tắc chung sống hòa bình được tuân thủ. Hiến pháp quy định các chức năng cụ thể của hệ thống chính trị và các quy định quyền hạn của công dân.
Các Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh và huyện được bãi bỏ vì "không cần thiết", để phù hợp với bộ máy nhà nước và với nhu cầu xây dựng phát triển theo "các điều kiện thực tế của đất nước". Đứng đầu các đơn vị hành pháp của địa phương là Thống đốc,Thị trưởng, Tỉnh trưởng... "quản lý các khu vực và địa phương mà không cần bất kỳ sự trợ giúp của các cơ quan dân bầu". Vai trò lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào trong đất nước được minh chứng bằng Bộ Chính trị. Các thành viên Bộ Chính trị nằm hầu hết các chức vụ chủ chốt lãnh đạo chi phối quốc gia.
Ngay tại điều đầu tiên cụm từ "các bộ tộc Lào" được xuất hiện và được nhắc tới nhiều lần trong Hiến pháp, một nỗ lực thống nhất và đoàn kết các sắc tộc của Đảng và Nhà nước. Các thành phần nòng cốt là nông dân, công nhân và trí thức. Lời mở đầu kỷ niệm cuộc cách mạng thực hiện trong 60 năm dưới sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Đông Dương.
Vai trò của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào về quyền hạn và nhiệm vụ gần như không có trong Hiến pháp, điều 3 Chương I Chế độ Chính trị-"Quyền làm chủ nhà nước của nhân dân các bộ tộc Lào được bảo đảm và thực hiện thông qua chế độ chính trị với hạt nhân lãnh đạo là Đảng Nhân dân Cách mạng Lào".
Hiến pháp của Lào không nhắc tới việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hay là quốc gia cộng sản... Điều 2 "Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào là nhà nước dân chủ nhân dân".
Điều 7 Mặt trận Lào Xây dựng Đất nước, Liên đoàn các tổ chức công đoàn, Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng, và Liên hiệp các hội phụ nữ "đoàn kết và vận động nhân dân". Tính đến giữa năm 1994, nhiệm vụ của Mặt trận Lào xây dựng đất nước là huy động sự giúp đỡ chính trị và nâng cao ý thức chính trị cho các mục tiêu của đảng giữa các tổ chức khác nhau, các nhóm dân tộc, tầng lớp xã hội trong xã hội. Các tổ chức đoàn thể khác được phân công để theo đuổi các mục tiêu này trong các quần thể mục tiêu của họ trong công nhân, thanh niên và phụ nữ.
Hiến pháp tuyên bố rằng nhà nước sẽ tôn trọng những "nguyên tắc bình đẳng giữa các bộ tộc Lào", giữ nguyên "thuần phong mỹ tục và văn hóa". Hơn nữa, nhà nước cam kết sẽ nâng cao "kinh tế xã hội của tất cả các nhóm dân tộc".
Về tôn giáo, nhà nước "tôn trọng và bảo vệ tất cả các hoạt động hợp pháp của các Phật tử và những người theo tôn giáo khác." Các nhà sư Phật giáo và các giáo sĩ khác được nhắc nhở rằng nhà nước khuyến khích họ "tham gia vào các hoạt động có lợi cho đất nước".
Hiến pháp gồm 10 chương, Chương I chế độ chính trị, Chương II Cơ cấu kinh tế-xã hội, Chương III - Quyền và nghĩa vụ của công dân, Chương IV Chức năng và quyền hạn Quốc hội, Chương V - Quyền hạn và nhiệm vụ của Chủ tịch nước, Chương VI - Quyền hạn và trách nhiệm của chính phủ, Chương VII - chính quyền địa phương, Chương VIII - hệ thống tư pháp, Chương IX - ngôn ngữ, chữ viết, và các biểu tượng quốc gia, Chương X - sửa đổi Hiến pháp (phải có sự chấp thuận của 2/3 thành viên Quốc hội).