1. Chức năng của hệ thống tiền tệ quốc tế

Hệ thống tiền tệ quốc tế có các chức năng chính sau đây:

- Các quốc gia thành viên trên cơ sở thống nhất với nhau các cách thức để điều chỉnh quan hệ tài chính tiền tệ nhằm đảm bảo ổn định, thông suốt trong các giao dịch tài chính tiền tệ từ đó tạo điều kiện để ổn định và phát triển các hoạt động kinh tế nói chung.

- Một hệ thống tiền tệ khi hoạt động có hiệu quả sẽ có tác dụng hạn chế tối đa những khủng hoảng về tài chính tiền tệ có thể xảy ra, đồng thời có khả năng giúp các quốc gia thành viên trong việc điều chỉnh những mất cân bằng trong cán cân thanh toán quốc tế của chúng.

 

2. Sự hình thành và phát triển của các hình thái tiền tệ

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ đã lần lượt ra đời và tồn tại dưới nhiều hình thái khác nhau nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là của hoạt động sản xuất, lưu thông, trao đổi hàng hóa.

 

2.1 Hóa tệ (Commodity money)

Hóa tệ là hình thái đầu tiên của tiền tệ. Hóa tệ xuất hiện lần lượt dưới hai dạng:

Hóa tệ phi kim loại

Hóa tệ phi kim loại là tiền tệ dưới dạng các hàng hóa (trừ kim loại). Đây là hình thái cổ nhất của tiền tệ, rất thông dụng

trong các xã hội cổ xưa. Trong lịch sử đã có rất nhiều loại hàng hóa khác nhau từng được con người dùng làm tiền tệ. Trong cuốn “Primitive money” của Paul Einzig (nhà phê bình kinh tế người Anh) viết năm 1966 đã đưa ra những thống kê khá thú vị về những loại tiền cổ xưa, đó là: Răng cá voi ở quần đảo Fiji, gỗ đàn hương ở Hawaii, lưỡi câu (cá) ở quần đảo Gilbert, mai rùa ở quần đảo Marianas, tuần lộc ở nhiều nơi thuộc Nga, lụa ở Trung Quốc, bơ ở Na Uy; Bò, cừu ở Hy Lạp và La Mã, muối ở nhiều nơi...

Hóa tệ phi kim loại có nhiều điểm bất tiện như tính chất không đồng nhất, dễ hư hỏng, khó phân chia hay gộp lại, khó bảo quản cũng như vận chuyển và chỉ được công nhận trong từng khu vực, từng địa phương. Vì vậy mà hóa tệ phi kim loại dần dần biến mất và được thay thế bằng dạng hóa tệ thứ hai - đó là hóa tệ kim loại.

- Hóa tệ kim loại

Hóa tệ kim loại là tiền tệ dưới dạng các kim loại, thường là các kim loại quý như vàng, bạc, đồng... Trong đó, vàng trở thành loại tiền tệ được sử dụng phổ biến và lâu dài nhất.

Tiền vàng có được vị trí thống trị là do vàng có tính ưu việt hơn hẳn các hàng hóa khác trong việc thực hiện chức năng tiền tệ như: Vàng là một loại hàng hóa được nhiều người ưa thích. Nó không bị thay đổi về màu sắc và chất lượng dưới tác động của môi trường và cơ học nên rất tiện cho việc cất trữ. Nó dễ chia nhỏ mà không ảnh hưởng tới chất lượng.

Trong giai đoạn đầu, tiền vàng thường tồn tại dưới dạng nén, thỏi. Nhưng về sau, để tiện cho việc trao đổi, tiền vàng thường được đúc thành những đồng xu vói khối lượng và độ tinh khiết nhất định, được gọi là tiền đúc.

Hệ thống thanh toán dựa trên vàng được duy trì cho đến năm 1971. Việc sử dụng tiền vàng ngày càng trở nên bất tiện, không thực hiện được chức năng tiền tệ nữa do một số nguyên nhân sau:

+ Quy mô và trình độ sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, khối lượng và chủng loại hàng hóa đưa ra trao đổi ngày càng tăng và đa dạng; trong khi đó lượng vàng sản xuất ra không đủ đáp ứng nhu cầu về tiền tệ (nhu cầu về phương tiện trao đổi) của nền kinh tế.

+ Giá trị tương đối của vàng so với các hàng hóa khác tăng lên do năng suất lao động trong ngành khai thác vàng không tăng theo kịp năng suất lao động chung của các ngành sản xuất hàng hóa khác. Điều đó dẫn đến việc giá trị của vàng trở nên quá lớn, không thể đáp ứng nhu cầu làm vật ngang giá chung trong một số lĩnh vực có lượng giá trị trao đổi mỗi lần nhỏ như mua bán dịch vụ hoặc hàng hóa tiêu dùng...

 

2.2 Tiền giấy (paper money)

Đầu tiên, tiền giấy xuất hiện dưới dạng các giấy chứng nhận có khả năng đổi ra bạc hoặc vàng do các ngân hàng thương mại phát hành (gold certificate, silver certificate). Đây là các cam kết cho phép người nắm giữ giấy này có thể đến ngân hàng rút ra số lượng vàng hay bạc ghi trên giấy. Các giấy chứng nhận này cũng được sử dụng trong thanh toán như vàng và bạc. Sự ra đời những giấy chứng nhận này đã giúp cho việc giao dịch với những khoản tiền lớn cũng như việc vận chuyển chúng ưở nên thuận lợi hơn rất nhiều.

Dần dần các giấy chứng nhận nói trên được chuẩn hóa thành các tờ tiền giấy có in mệnh giá và có khả năng đổi ra vàng một cách tự do theo hàm lượng vàng quy định cho đồng tiền đó.

Ví dụ:  Anh trước đây, bên cạnh những đồng bảng Anh (pound sterling) tiền đúc còn lưu hành đồng bảng Anh bằng giấy do các ngân hàng phát hành và được đổi tự do ra vàng theo tỉ lệ 1 bảng Anh tương đương 123,274 grain, tương đương với 7,32238 gr vàng nguyên chất.

Sau Chiến ưanh thế giới thứ hai, chỉ còn duy nhất đồng USD là có thể đổi ra vàng. Tuy nhiên, năm 1971 với việc Mỹ tuyên bố ngừng đổi đồng USD ra vàng, sự tồn tại của đồng tiền giấy có thể đổi ra vàng trong lưu thông thực sự chẩm dứt.

Ngày nay, việc phát hành giấy bạc chỉ do ngân hàng trung ương thực hiện. Hàm lượng vàng của đồng tiền giấy được quy định theo luật từng nước.

 

2.3 Các loại tiền khác

Ngày nay, do sự phát triển của các tổ chức tài chính tín dụng, đặc biệt là của hệ thống ngân hàng, các hình thái tiền tệ mới đã xuất hiện.

-    Tiền tín dụng

Tiền tín dụng là tiền nằm trong các tài khoản mở ở ngân hàng và được hình thành trên cơ sở các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Khi khách hàng gửi một khoản tiền giấy vào ngân hàng, ngân hàng sẽ mở một tài khoản và ghi có số tiền đó. Tiền giấy của khách hàng như thế đã chuyển thành tiền tín dụng. Tiền tín dụng thực chất là cam kết của ngân hàng cho phép người sở hữu tài khoản tiền gửi (hay tiền tín dụng) được rút ra một lượng tiền giấy đúng bằng số dư có ghi trong tài khoản.

Để sử dụng tiền tín dụng, những người chủ sở hữu phải sử dụng các lệnh thanh toán để ra lệnh cho ngân hàng nơi mình mở tài khoản thanh toán hộ mình. Có nhiều loại lệnh thanh toán khác nhau, nhưng dạng phổ biến nhất là séc.

Séc (cheque/check) là một tờ lệnh do người chủ tài khoản séc phát hành yêu cầu ngân hàng thanh toán từ tài khoản của họ cho người hưởng lợi chỉ định trong tờ séc.

-    Tiền điện tử (Electronic money)

Gần đây, những tiến bộ về công nghệ máy tính cũng như sự phát triển của mạng lưới thông tin viễn thông đã cho phép các ngân hàng thay thế phương thức thanh toán truyền thống, sử dụng các chứng từ giấy bằng phương thức thanh toán điện tử (Electronic Means of Payment - EMOP). Bằng phương pháp mới này, tốc độ chuyển tiền tăng lên rất nhanh, giảm bớt được chi phí về giấy tờ so với lưu thông tiền mặt và séc. Đồng tiền trong hệ thống như vậy được gọi là tiền điện tử (E-money) hoặc tiền số (Digi money).

- Các thẻ thanh toán

Là các tấm thẻ do ngân hàng hoặc các công ti tài chính phát hành mà nhờ đó người ta có thể lưu thông những khoản tiền điện tử. Thẻ thanh toán có một số dạng như: Thẻ rút tiền ATM (ATM card - bank card), Thẻ tín dụng (credit card), Thẻ ghi nợ (debit card)...

 

3. Các hệ thống tiền tệ thế giới

3.1 Chế độ bản vị (1867 -1914)

a)Chế độ bản vị hàng hóa

Từ thời cổ đại cho đến thời cận đại, thương mại quốc tế hoạt động hên cơ sở “bản vị hàng hóa”, trong đó, kim loại là hàng hóa (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành những khối với chức năng làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế.

Trong lịch sử, vàng và bạc luôn là hai kim loại được ưa chuộng đặc biệt hơn hẳn các kim loại khác, bởi vì những đặc tính của chúng đã đáp ứng được những gì mà một đong tiền hàng hóa (commodity money) cần có như: sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng được duy trì lâu bền. Sự chấp nhận vàng và bạc là tiền còn có nguyên nhân là các kim loại này được thừa nhận rộng rãi là có giá trị sử dụng phi tiền tệ trong các ngành công nghiệp và trang sức. Hơn nữa, giá trị của vàng và bạc được ổn định tương đối so với các hàng hóa khác. Ngoài ra, chất lượng của chứng có thể được kiểm tra một cách chính xác và được các chuyên gia (thợ kim hoàn) chứng nhận.

Tuy nhiên, các quốc gia ngày càng thường xuyên giảm tỉ trọng của vàng (hay bạc) trong các đồng xu. Hành động này gọi là “bào mòn giá trị thực tế của tiền xu - debasement” - tiền thân của hành động phá giá trong thời hiện đại.

Khi trong nền kinh tế cùng song song tồn tại “đồng tiền đầy đủ giá trị” và “đồng tiền thiếu giá trị”, nhưng chúng đều có chung một mệnh giá theo nhãn hiệu ghi trên đồng tiền thì xuất hiện hiện tượng đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông (quy luật Gresham).

 

b) Chế độ bản vị vàng

Bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng.

Chế độ bản vị vàng được áp dụng phổ biến ở Anh và hầu hết các nước châu Âu, dẫn đầu là Đức trong thập niên 70 của thế kỉ XX, và tiếp sau là Mỹ vào năm 1879. Năm 1880, bản vị vàng từ một số ít quốc gia đã phát triển thành “hệ thống tiền tệ quốc tế” với hầu hết các nước áp dựng. Khi bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ nhất năm 1914, bản vị vàng bị bỏ rơi, và trong hơn 30 năm từ 1880 đến 1914 hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị ở hầu khắp các nước, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia lớn với nhau cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa trong suốt thời gian này.

Những đặc điểm trong hoạt động của chế độ bản vị vàng:

- Vàng được coi là tiền tệ trên thế giới, được phép dĩ chuyển tự do giữa các nước và được dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế.

- Các quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của mình với vàng; hay nói cách khác, chính phủ ấn định cố định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã quy định. Ví dụ, ở Mỹ, 1 ounce vàng nguyên chất (480 grains) = 20,67 USD. Các quốc gia đều phải dự trữ số vàng đủ để bảo đảm thanh toán, chuyển đổi khi có nhu cầu.

- Tỉ giá hối đoái giữa đồng tiền các quốc gia được xây dựng căn cứ vào tỉ lệ cố định giữa bản vị vàng của các đồng tiền. Ví dụ, đồng bảng Anh được ấn định bằng tỉ lệ 6 bảng = 1 ounce vàng, trong khi đó đồng franc Pháp có giá 30 Franc = 1 ounce. Như vậy, tỉ giá hối đoái giữa đồng bảng Anh và đồng franc Pháp sẽ là: 1 bảng = 5 franc.

Chế độ bản vị vàng giữa các năm 1880 - 1914 là một hệ thống đơn giản, phù hợp với nhận thức và thực tiễn thanh toán và quan hệ kinh tế quốc tế lúc đó. Nó đã góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế quốc tế thời kì này. Tuy nhiên, sang đầu thế kỉ XX, khi quan hệ thương mại và đầu tư tăng mạnh, mặt khác, các quốc gia đều có xu hướng bội chi ngân sách bằng cách in thêm tiền (lạm phát), số lượng vàng dự trữ trên thực tế không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán, hệ thống bản vị vàng tỏ ra không còn phù họp và bị sụp đổ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra.

 

3.2 Hệ thống bản vị vàng - hối đoái (1922 -1939)

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tỉ giá hối đoái được thả nổi hoàn toàn, dao động với quy mô và tần số rất lớn. Các quốc gia đều cho rằng sự thả nổi như vậy chỉ là tạm thời và cần phải cải tổ lại hệ thống tiền tệ quốc tế theo hướng phục hồi chế độ bản vị vàng. Tuy nhiên, để khắc phục những nhược điểm của chế độ bản vị vàng trước đây, các quốc gia đều cho rằng bên cạnh vàng cần phải có ít nhất một đồng tiền mạnh đóng vai trò đồng tiền dự trữ và thanh toán quốc tế. Vì vậy, hệ thống tiền tệ quốc tế mới ra đời, thực chất là một chế độ bản vị vàng hối đoái.

Năm 1922, tại hội nghị quốc tể họp ở Genois (Italia), một nhóm các nước gồm Anh, Pháp, Italia và Nhật Bản đã kêu gọi các nước áp dụng chế độ bản vị vàng hối đoái nhằm giúp các quốc gia tiết kiệm được nguồn dự trữ vàng hạn chế của mình. Hệ thống này có các đặc điểm sau:

-    Hệ thống bản vị hối đoái áp dụng chế độ tỉ giá thả nổi và bản vị vàng có giới hạn. Theo đó, vàng và một số đồng tiền chủ chốt được coi là các “ngoại tệ vàng” (gồm đồng bảng Anh, đô la Mỹ và franc Pháp) được sử dụng làm phương tiện thanh toán và dự trữ quốc tế.

-    Các “ngoại tệ vàng” sẽ được đổi ra vàng theo mức giá quy định trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, các đồng tiền khác chỉ được phép chuyển đổi ra một trong số các “ngoại tệ vàng” nói trên (không được phép chuyển trực tiếp ra vàng).

-> Hệ thống tiền tệ quốc tế Genois là một hệ thống trung gian giữa hệ thống bản vị vàng và hệ thống tỉ giá hối đoái thả nổi.

Nguyên nhân sụp đổ:

Đầu thập kỉ 30 của thế kỉ XX, cuộc đại khủng hoảng kinh tế (1929) đã tàn phá hệ thống ngân hàng thế giới, phá vỡ niềm tin vào khả năng tiếp tục duy trì chuyển đổi các đồng tiền ra vàng của các quốc gia.

Năm 1928, Pháp quyết định chuyển mức dư trong cán cân thanh toán và sau đó là toàn bộ bảng Anh tích lũy được ra vàng với ý định biến Paris thành một trung tâm tài chính quốc tế tầm cỡ. Hành động này làm cho Anh buộc phải tuyên bố ngừng đỗi bảng Anh ra vàng và phá giá đồng bảng Anh để tránh thất thoát nguồn dự trữ vàng của mình. Kể từ sau đại khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933, các nước có đồng tiền chủ chốt đều gặp khó khăn về dự trữ vàng và lần lượt hủy bỏ chế độ bản vị hối đoái: Anh và Đức năm 1931, Hoa Kỳ năm 1933, Pháp năm 1936. Đen cuối thập kỉ 30 của thế kỉ XX, hệ thống bản vị vàng - hối đoái sụp đổ hoàn toàn.

 

3.3 Hệ thống Bretton Woods (1945 -1973)

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, các nước liên minh đã dành sự quan tâm rất nhiều tới việc tái thiết thế giới, mà trước tiên là xây dựng một hệ thống tiền tệ quốc tế mới. Các cuộc thương thuyết đầu tiên về tái thiết hệ thống tiền tệ thế giới diễn ra lần đầu tiên vào năm 1941 giữa Anh và Mỹ. Năm 1944, một hội nghị quốc tế được nhóm họp tại Bretton Woods (Mỹ) với sự tham gia của đại diện 44 quốc gia đã đưa ra một loạt các biện pháp liên quan đến lĩnh vực tài chính - tiền tệ, dẫn đến sự hình thành hệ thống tiền tệ quốc tế mới với tên gọi hệ thống Bretton Woods.

Hệ thống tiền tệ này có một số đặc điểm quan trọng:

-    Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund - IMF) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (International Bank for Reconstruction and Development - IBRD) - Sau này phát triển thành Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB). IMF có chức năng điều tiết tỉ giá giữa các nước, giám sát việc tuân thủ các quy định về tài chính quốc tế và cấp tín dụng cho các nước thành viên khi gặp khó khăn tài chính.

-    Áp dụng chế độ tỉ giá có định trong ngắn hạn, còn về dài hạn cho phép điều chỉnh theo quan hệ cung - cầu. Mỗi đồng tiền quốc gia thành viên IMF được ấn định một tỉ giá trung tâm với USD và được phép dao động trong biên độ ±1%. Tỉ giá đồng USD được cố định với giá vàng là 35USD/1 ounce. Mỹ có trách nhiệm đổi không hạn chế USD ra vàng và ngược lại cho ngân hàng trung ưorng của các nước thành viên.

-    Để giúp chế độ tỉ giá hối đoái cố định có điều chỉnh hoạt động một cách có hiệu quả, các quốc gia cần tới một số lượng dự trữ quốc tế lớn, và vì vậy cần phải có sự gia tăng vàng và các nguồn dự trữ bằng tiền:

+ IMF đã xây dựng một hệ thống các hạn mức cho vay và hạn mức đóng góp đối với các thành viên. Mỗi nước thành viên được hưởng một hạn mức cho vay nhất định (hạn mức này được xây dựng dựa trên một công thức tính toán thể hiện tầm quan trọng về tiềm năng kinh tế và quy mô thương mại).

+ Mỗi nước thành viên phải đóng góp 25% hạn mức của mình là bằng vàng hoặc ngoại tệ có khả năng chuyển đổi được thành vàng (chủ yếu là đô la Mỹ) và 75% là đồng tiền của mình.

+ Lượng tiền tệ dự trữ do các nước đóng góp được quy đổi thành một đom vị chung gọi là SDR (quyền rút vốn đặc biệt). Giá trị của SDR được tính bằng số bình quân của giá trị 16 đồng tiền của những nước có lượng hàng hóa xuất khẩu vượt mức 1% kim ngạch thương mại quốc tế. Đến năm 1981, giá trị SDR đã được đơn giản hóa, chỉ tính theo giá trị của 5 đồng tiền chủ chốt là đô la Mỹ, franc Pháp, bảng Anh, mac Đức và yên Nhật (hiện nay, IMF đưa ra rổ tiền tệ để tính SDR gồm 5 loại tiền tệ là USD, GBP, EUR, JPY và RMB).

Nguyên nhân sụp đổ:

Cuối năm 1970, đầu năm 1971, sự thâm hụt cán cân thanh toán ở Hoa Kỳ tăng cao, dự trữ vàng của Hoa Kỳ và IMF không thể bảo đảm nổi chế độ bản vị vàng cho đồng USD nữa. Cuối cùng, Hoa Kỳ đã phải chấm dứt cam kết đổi đô la ra vàng - cái “chốt” cơ bản của hệ thống tiền tệ thế giới.

Hệ thống tiền tệ thế giới trên chỉ có thể tồn tại đến khi nào nước Mỹ có lượng vàng dự trữ đủ để đổi tất cả số USD do các ngân hàng trung ương các nước đưa ra thành vàng. Mặt khác vào thời điểm đó, tình hình kinh tế, chính trị ở Mỹ gặp nhiều khó khăn buộc Mỹ phải phát hành thêm tiền vào làm cho lượng cung tiền không cân bằng với lượng vàng dự trữ. Hơn nữa, trong giai đoạn này, sự phân phối lại trữ lượng vàng nghiêng về phía các nước Tây Âu và Nhật Bản, nơi xuất hiện những trung tâm tài chính mới. Điều đó đồng nghĩa với việc Mỹ đánh mất vị trí thống lĩnh của mình trong nền kinh tế thế giới.

Ngày 16/3/1973, Bộ trưởng Tài chính các nước châu Âu đã họp tại Paris và chính thức tuyên bố tỉ giá thả nổi của các đồng tiền châu Âu so với đồng USD. Sau đó, Nhật Bản cũng tuyên bố thả nổi đồng Yên đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods.

 

3.4 Hệ thống Giamaica (từ 1976)

Sau năm 1973, cả thế giới chuyển sang áp dụng chế độ tỉ giá thả nổi có quản lý, các quốc gia thực hiện các biện pháp can thiệp vào thị trường hối đoái để điều chỉnh tỉ giá theo mục tiêu phát triển của quốc gia mình.

Tháng 01 năm 1976, tại Hội nghị quốc tế của IMF tại Giamaica, các nước thành viên đã thông qua quyết định sửa đổi điều lệ của Quỹ và thông qua các quy định mới cho hệ thống tiền tệ quốc tế. Tại Kinston, Giamaica, các nước thành viên đã chính thức công bố hợp pháp hóa hoạt động cho chế độ tỉ giá thả nổi. Ngoài ra, để kết thúc sứ mệnh của giá vàng chính thức, Hội nghị đã đề ra mục tiêu tăng cường vị thế của SDR trong dự trữ quốc tế và công bố chính thức rằng SDR trở thành tài sản dự trữ quốc tế chính. Năm 1978, các điều khoản sửa đổi điều lệ của IMF có hiệu lực và chính thức cho phép các thành viên quyền quyết định rộng rãi trong việc lựa chọn chế độ tỉ giá hối đoái của mình, tuy nhiên không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng. IMF cũng có quyền sử dụng các biện pháp giám sát chặt chẽ các chính sách tỉ giá của các nước thành viên.

Chế độ tiền tệ Giamaica ra đời trên cơ sở Hiệp định được kí kết giữa các nước thành viên IMF tại Giamaica, với các nguyên tắc cơ bản sau:

-    Thực hiện phi tiền tệ hóa vai trò của vàng. Không thừa nhận vàng trong chức năng là thước đo giá trị và là cơ sở để xác định tỉ giá hối đoái của các đồng tiền quốc gia các nước hay các quốc gia không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng. Một nửa số vàng dự trữ ở IMF được trả lại cho các nước thành viên, nửa còn lại được bán lấy tiền giúp đỡ các nước nghèo.

-   Các nước thành viên áp dụng chế độ tỉ giá thả nổi có quản lý, dưới sự hỗ trợ và giám sát của IMF.

-   Cho phép các nước được liên kết để thành lập hệ thống tiền tệ khu vực. Theo đó, các nước có thể hình thành khối tiền tệ để thực hiện những mục tiêu riêng của mình trong khi vẫn là thành viên của hệ thống tiền tệ quốc tế. Ví dụ, trên thực tế chúng ta có thể nhận thấy sự tồn tại của Liên minh tiền tệ châu Âu - một hệ thống tiền tệ trong Liên minh châu Âu.

-   Đơn vị thanh toán chính thức giữa IMF và các nước thành viên là SDR. Tuy nhiên, trong thanh toán và giao dịch quốc tế giữa các nước, đồng USD vẫn giữ vai trò chủ chốt. Giá trị đồng SDR được xác định 5 năm 1 lần dựa trên giá trị
tiền tệ của nhóm 5 đồng tiền (hiện nay gồm: USD, GBP, EUR, JPY và RMB).

Hệ thống Giamaica đã hoạt động được hom 40 năm, nhiều lần được cải tiến và có tác dụng khá tốt với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, dưới sự chi phối của IMF.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)