Khách hàng: Kính thưa Luật sư Minh Khuê, xin Luật sư hãy phân tích giúp tôi về quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài như thế nào?

Cảm ơn!

Trả lời:

 

 

1. Pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài thời kỳ trước năm 1975

Ngay sau khi giành được độc lập (1945), Việt Nam phải tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp (1946- 1954) và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hai mươi mốt năm (1954-1975).

Trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử ấy, pháp luật Việt Nam thiếu vắng những quy định pháp luật về đầu tư nước ngoài ở giai đoạn thực hiện hai cuộc kháng chiến này.

 

2. Pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài thời kỳ sau năm 1975 đến trước thời kỳ đổi mới

Sau năm 1975, nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, cả nước bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Lúc bấy giờ, điều kiện kinh tế - xã hội nước ta vô cùng thấp kém do hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại. Nhằm thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976) khẳng định: việc “tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, thể hiện sự phân công, hợp tác, tương trợ trên tỉnh thần quốc tê xã hội chủ nghĩa; đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi.” (theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004)

Thực hiện Chủ trương của Đảng, ngày 18/4/1977, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 115-CP ban hành Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ỏ nưốc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm 07 chương và 27 điều (Nghị định số 115-CP).

Đây là văn bản pháp luật đầu tiên về khuyến khích và điều chỉnh hoạt động đầu tư nưốc ngoài tại Việt Nam, đánh dấu bước đi quan trọng trong quá trình mỏ cửa, hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế của Việt Nam, góp phần tạo ra khung pháp lý ban đầu cho hoạt động đầu tư quốc tế ở Việt Nam.

Điều lệ ban hành kèm Nghị định 115-CP quy định:

- Nhà đầu tư nước ngoài có thể là xí nghiệp, công ty, tổ chức tư nhân, tổ chức nhà nước, tổ chức quốc tế hoặc từng cá nhân, nếu có đủ các điều kiện quy định trong Điều lệ có thể đầu tư vào việc khai thác tài nguyên, vào các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, vận tải trừ những lĩnh vực, những ngành mà Chính phủ Việt Nam chỉ dành cho đầu tư trong nước;

- Hình thức đầu tư gồm: Hợp tác sản xuất chia sản phẩm, xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp; xí nghiệp tư doanh chuyên sản xuất hàng xuất khẩu;

- Vốn của bên nước ngoài đầu tư vào xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp chủ yếu gồm thiết bị máy móc, dụng cụ, phương tiện vận tải, vật tư kỹ thuật, quyền sở hữu công nghiệp và vốn bằng ngoại tệ ghi ở Điều 2. Vốn đó ít nhất phải bằng 30% và nhiều nhất không quá 49% tổng số vốn;

- Thời hạn đầu tư trong thời gian từ 10 đến 15 năm, trừ những trường hợp đặc biệt thì thời gian có thể được cho phép dài hơn.

Tuy vậy, từ năm 1975 đến năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, được điều tiết chủ yếu bởi các kế hoạch của Nhà nước.

Nền kinh tế của Việt Nam thời kỳ này tập trung phát triển nội thương, kinh tế hàng hóa tự cung tự cấp, thành phần kinh tế nhà nước và kinh tê tập thể giữ vai trò chủ đạo nên hệ thốhg pháp luật vẫn mang đậm những đặc trưng của hệ thống pháp luật thời kỳ bao cấp, điều chỉnh những quan hệ trong nền kinh tế tập trung.

Do vậy, mặc dù có Nghị định số 115/CP điều chỉnh hoạt động đầu tư, nhưng trên thực tế nó không phát huy được hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài.

 

3. Sự phát triển của pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài từ năm 1986 đến nay

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đề ra đường lối mở rộng giao lưu quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước.

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa 8 ngày 31/12/1987 đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam với những nội dung được soạn thảo trên nền tảng của Nghị định số 115/CP năm 1977 gồm 6 chương, 42 điều.

 

4. Cấu trúc chương, điểm mới Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam so với nghị định 115/CP

Với nội dung, cấu trúc đơn giản nhưng tương đối đầy đủ với nhiều sửa đổi, trong đó điểm đáng chú ý là Luật này đã: (i) Xác định rõ hơn về nhà đầu tư nưốc ngoài là “một hoặc nhiều tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân nưốc ngoài” và họ được đầu tư vào các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, nhưng cũng xác định rõ các lĩnh vực mà Việt Nam khuyến khích; (ii) Hình thức đầu tư cũng được quy định cụ thể, gồm: Hợp đồng hợp tác kinh doanh, xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốh nước ngoài; (iii) Việc góp vôn của phía nước ngoài không ấn định mức cao nhất là bao nhiêu, nhưng không được thấp hơn 30% vốn pháp định (trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 lần đầu tiên xuất hiện khái niệm về vốh pháp định); (iv) Thời hạn hoạt động của xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không quá 20 năm, trong trường hợp cần thiết, thời hạn này có thể dài hơn.

Tuy vậy, do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chưa đồng bộ của hệ thống pháp luật trong thời kỳ này nên có vẻ như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 này chưa thực sự tạo được cơ sở pháp lý hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài để thu hút họ đầu tư vào Việt Nam.

Để tạo cơ sở pháp lý dấp hẫn đầu tư nước ngoài, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã trải qua hai lần sửa đổi, bổ sung, lần thứ nhất vào năm 1990, lần thứ hai vào năm 1992.

Sau đó, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 bị thay thế bởi văn bản mới là Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung năm 2000 với nhiều nội dung mới theo tinh thần không khuyến khích tràn lan, mà hướng đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào những mục tiêu trọng điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó chú trọng thu hút vốn đầu tư vào những dự án có chuyển giao công nghệ, tạo ra năng lực công nghệ tiên tiến, năng lực xuất khẩu, tăng trưỏng kinh tế.

Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư cũng được sửa đổi cơ bản để tạo sự thông thoáng cho đầu tư, như: bổ sung một số ưu đãi đặc biệt đổi với một số dự án đặc biệt; các quy định ưu đãi liên quan đến thuế, chuyển giao công nghệ; các quy định liên quan đến góp vốh; các quy định về người Việt Nam đinh cư ở nước ngoài đầu tư về Việt Nam; về khu công nghiệp, chi nhánh của doanh nghiệp có vốh đầu tư nước ngoài; bổ sung hình thức đầu tư BTO và BT; mở tài khoản ở nước ngoài và nhiều quy định mới khác.

Các văn bản luật đó cũng chính là những dấu mốc phát triển và hoàn thiện của pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Chính sách thu hút đầu tư của các nước trong khu vực và thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, do vậy mà hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư quốc tế của nước ta trước đây vốn được coi là thu hút, thông thoáng, nay giảm dần tính cạnh tranh so với những quốc gia này. Điều này đặt ra sự cần thiết phải ban hành Luật Đầu tư mới thể hiện rõ ràng, minh bạch hơn chính sách bảo đảm đầu tư, khuyến khích ưu đãi đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tháo gỡ rào cản liên quan đến đầu tư, như: hạn chế lĩnh vực đầu tư, các điều kiện thương mại liên quan đến đầu tư, hạn chế về tổ chức và quản lý doanh nghiệp, hạn chế về hình thức đầu tư, thiếu tự do trong việc quyết định các hoạt động đầu tư.

Vào ngày 29/11/2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Đầu tư của năm 2005 trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, thực tiễn hoạt động đầu tư, đòi hỏi của hội nhập và cạnh tranh quốc tế, nhằm huy động nhiều hơn, sử dụng có hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí các nguồn lực đầu tư trong nước và nước ngoài của mọi thành phần kinh tế. Luật Đầu tư năm 2005 được xem như là sự nhất thể hóa Luật Đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài. Đây là văn bản luật thay thế Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài năm 2000 và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998, được áp dụng thốhg nhất cho hoạt động dầu tư, không phân biệt nhà đầu tư trong và ngoài nưốc, góp phần tạo bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải thiện môi trường đầu tư ỏ Việt Nam.

Chính vì thế, việc ban hành Luật Đầu tư của năm 2005 đã đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về đầu tư của Việt Nam.

 

5. Điểm tiến bộ của Luật đầu tư của năm 2005

So với các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư trước đây, các quy định về hoạt động đầu tư quốc tế theo Luật Đầu tư của năm 2005 đã có nhiều điểm mới, tiến bộ.

Phạm vi điều chỉnh trong Luật Đầu tư năm 2005 rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động đầu tư tại Việt Nam, trong đó có cả hoạt động đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; đầu tư từ nguồn vốn nhà nước và của tư nhân; đầu tư của nhà đầu tư trong nước và của nhà đầu tư nước ngoài, thể hiện được sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.

Những quy định của Luật thể hiện tính nhất quán trong việc thực hiện cam kết của Nhà nước Việt Nam đối với lợi ích của nhà đầu tư, vừa thỏa mãn nguyên tắc không phân biệt đối xử, vừa thể hiện sự cam kết của Nhà nước trong chính sách kêu gọi đầu tư. Điểm mới rất quan trọng là Luật Đầu tư của năm 2005 đã cam kết mở cửa thị trường đầu tư phù hợp vói lộ trình đã cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đồng thời khẳng định việc loại bỏ các rào cản về đầu tư liên quan đến thương mại (thực hiện Hiệp định TRIMs/WTO) cũng như các tại các hiệp định thương mại, thương mại tự do có quy định về đầu tư.

Mặc dù vậy, sau gần 10 năm áp dụng, Luật Đầu tư năm 2005 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải có sự thay đổi, bổ sung.

 

6. Luật đầu tư năm 2014

Chính vì vậy, ngày 26/11/2014, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2014, có hiệu lực ngày 01/7/2015 thay thế Luật Đầu tư năm 2005. Tiếp theo đó, đến năm 2015, Luật Đầu tư được sửa đổi bởi Luật khí tượng thủy văn; năm 2016, Luật Đầu tư năm 2014 lại được sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; ngày 12/6/2017, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua có nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư năm 2014; ngày 15/6/2018, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua tiếp tục có nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư năm 2014; năm 2019 Luật Đầu tư tiếp tục được sửa đổi bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ.

So với Luật Đầu tư của năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 có “mở” hơn, phạm vi điều chỉnh cũng rõ ràng hơn (Điều 1). Luật được đánh giá là có tính đổi mới toàn diện và đột phá về thể chế, mở ra môi trường đầu tư thông thoáng. Tuy vậy, nếu xem xét toàn bộ nội dung của Luật, có thể dễ dàng nhận thấy, đâu đó vẫn còn tồn tại sự “lưỡng lự’ giữa thu hút đầu tư nước ngoài và bảo hộ đầu tư trong nước, giữa quyền quản lý của Nhà nước và quyền tự do đầu tư của nhà đầu tư.

Ví dụ: “Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm” (khoản 1 Điều 5), tuy nhiên, Điều 5 lại không nhắc đến quyền quản lý của Nhà nước mà để mở sự tự do cho các nhà đầu tư. Đây có thể coi là chưa rõ ràng giữa quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và quyền quản lý của Nhà nước.

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).