CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

NỘI DUNG TƯ VẤN

1. Khái niệm Nghị viện:

Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội, được lập ra bằng bầu cử, có chức năng chủ yếu là lập pháp.

Nghị viện của các nước trên thế giới có thể có một viện hoặc hai viện. Các nước có chế độ một viện như Hi Lạp, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha... Các nước có chế độ hai viện như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật, Italia, Đức...

Chế độ hai viện trước hết tổn tại ở các nhà nước liên bang, ở những nước này Thượng nghị viện đại diện cho các bang. Các lãnh địa, các bang, các lãnh đia dù lớn hay nhỏ đều có số thượng nghị sĩ như nhau mà không lấy theo tỈ lệ dân số như Thượng viện Mĩ gồm đại diện của các bang và . mỗi bang, dân số đông hay ít vẫn được bầu 2 thượng nghị sĩ. Ở các nhà nước đơn nhất, Thượng nghị viện đại diện cho các đơn vị hành chính lãnh thổ (Pháp) hoặc đại diện cho tầng lớp quý tộc trong xã hội (Anh).

Hạ nghị viện đại diện cho các tầng lớp dân cư trong xã hội và bầu theo tỈ lệ dân số. Theo đó, đơn vị bầu cử có số dân lớn được bầu nhiều đại biểu, đơn vị có số dân ít hơn chỉ được ít đại biểu. Quyển hạn, nhiệm vụ của hai viện thường khác nhau, nhưng trong lĩnh vực lập pháp, ở hầu hết các nước thẩm quyền của hai viện như nhau, song cũng có nước thì Hạ nghị viện có ưu thế hơn. Khi có sự bất đồng giữa Thượng viện và Hạ viện, quyền quyết định cuối cùng lại thuộc về Hạ viện.

2. Cơ cấu của Nghị viện

2.1 Các viện của Nghị viện:

Nghị viện của các Nhà nước đương đại có thể có một hoặc hai viên: Chế độ 1 viện tổn tại ở Hy Lạp, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Bồ Đào Nha... Chế độ hai viện tồn tại ở Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Italia, Đức v.v...

Chế độ hai viện ước hết tồn tại ở các Nhà nước Liên bang. Thượng Nghị viện thông thường là đại diện của các bang, các lãnh địa, không lấy theo tỷ lệ dân số. Ví dụ, Hoa Kỳ có 50 bang thì mỗi bang có hai Thượng nghị sỹ không phụ thuộc vào bang lớn hay nhỏ.

ở một số nước khác Thượng nghị viện đại diện cho tầng lớp quý tộc trong xã hội. Ví dụ, Thượng nghị viện Anh gọi là Viện qúy tộc (House of Lords). Thượng nghị viện Anh bao gổm các đại biểu quý tộc sau đây:

  1. Các nhà quý tộc tôn giáo (The Lords Spritual) đó là các Tổng giám mục của các thành phố Canterbury và York, các giám mục của Thủ đô London và các thành phố Durham và Winchester và sau đó là 21 vị giám mục lão thành của giáo hội Anh(1J. Sự lão thành được tính từ thời điểm được bổ sung làm giám mục. Vị trí Thượng nghị sĩ chỉ dành cho những giám mục tại chức, khi về hưu họ phải rời bỏ nghị trường.
  2. Các Nghị sĩ là quý tộc kế truyền của Anh và Liên hiệp Vưorng quốc Anh bao gồm: Công ước, Hầu tước, Bá tước và Nam tước (Duke, Marquis, Earl, Viscount or Baron). Năm 1977 các Nghị sĩ này có đến 900 người.
  3. Các nghị sĩ là quý tộc kế truyền của Scotland được quyền bầu trong số họ 16 đại biểu vào Thượng Nghị viện Anh.
  4. Các nhà quý tộc là Thượng nghị sĩ suốt đời theo luật năm 1958. Số thượng nghị sĩ thuộc loại này 280 người.
  5. Các thẩm phán Tòa án phúc thẩm đã nghỉ hưu. Thông thường số Thượng nghị sĩ này là 11 người(2).

Hiện nay số lượng Thượng nghị sĩ Anh trên 1200 người trong khi đó Hạ nghị viện của Anh (House of Commons) chỉ có 635 Nghị sĩ với nhiệm kỳ là 5 năm.

So sánh quyền hạn của hai viện ta thấy trước kia Quý tộc viện cũng có quyền lập pháp như Thứ dân viện. Một đạo luật cần phải được cả hai viện chấp thuận mới được ban hành. Nhưng kể từ khi có Luật Nghị viện Anh năm 1911 và đặc biệt là với Luật nghị viện Anh năm 1949 quyền hạn của Quý tộc viện bị hạn chế rất nhiều. Theo luật Nghị viện Anh năm 1949 Quý tộc viện chỉ còn quyền đình hoãn việc ban hành những dự luật do thứ dân viện biểu quyết trong thời hạn hai khóa họp không quá một năm. Thứ dân viện có quyền quyết định mọi chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia cùng biểu quyết tất cả những đạo luật cho nước Anh, quyền của Thứ dân viện rộng đến mức mà người ta phải nói rằng: “Nghị viện Anh quốc có thể làm tất cả mọi thứ trừ việc biến người đàn ông thành người đàn bà”

Ở nước Cộng hòa Pháp Thượng nghị viện (Le Sénat) đại diện cho các tập thể lãnh thổ Pháp. Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Pháp khác nhau những điểm sau đây:

  • Hạ nghị sĩ do bầu cử đầu phiếu trực tiếp còn Thượng Nghị sĩ do đầu phiếu gián tiếp.
  • Số lượng Nghị sĩ Hạ nghị viện là 577 còn số lượng Nghị sĩ Thượng viện là 321.
  • Nhiệm kỳ của Hạ nghị sĩ là 5 năm còn nhiệm kỳ của Thượng nghị sĩ là 9 năm.
  • Để trỏ thành ứng cử viên vào Hạ nghị viện chỉ cần đủ 23 tuổi, còn để trở thành ứng cử viên vào Thượng nghị viện phải đủ 35 tuổi.
  • Tổng thống có thể giải tán Hạ nghị viện nhưng không thể giải tán Thượng nghị viện.
  • Nếu khuyết Tổng thống hoặc vì những lý do khác mà Tổng thống không thực hiện được nhiệm vụ của mình, Chủ tịch thượng nghị viện sẽ thực hiện chức năng của Tổng thống. So sánh quyền hạn của Thượng nghị viện và Hạ nghị viện ta thấy Hạ nghị viện có quyền lớn hơn. Theo quy định tại Điều 45 và 46 của Hiến pháp 1958 - Hiến pháp hiện hành của nuớc Pháp thì mỗi dự án luật hay sáng kiến luật phải do cả hai viện biểu quyết chấp thuận. Nếu có sự bất đồng giữa hai viện thì phải thành lập một ủy ban hỗn hợp gồm một số đại biểu Thượng nghị viện và Hạ nghị viện bằng nhau để thảo luận và thương thuyết. Nếu ủy ban không thể mang lại sự thỏa hiệp của hai viện thì Chính phủ sau khi đề nghị hai viện xem xét lại vấn đề một lần nữa, có thể yêu cầu Hạ nghị viện chung quyết định với đa số tuyệt đối.

Theo Điều 49 của Hiến pháp 1958 Hạ nghị viện có thể buộc Chính phủ giải tán bằng cách bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ (Le vote d’une motion de censure). Nếu có ít nhất 1/10 số Hạ nghị sĩ đề nghị bỏ phiếu không tín nhiệm Chính phủ thì cuộc bỏ phiếu không tín nhiệm sẽ diễn ra sau 48 giờ kể từ khi có đề nghị. Nếu đa số phiếu của Hạ nghị viện thể hiện sự không tín nhiệm thì Chính phủ phải giải tán. Việc hình thành cơ chế hai viện tạo ra những ưu việt sau đây:

  • Sự bảo thủ của các Thượng nghị sĩ làm cân bằng với sự thái quá của các lực lượng cấp tiến hay chịu ảnh hưởng của các áp lực trong xã hội mang tính chất nhất thời. Nhờ cơ chế này mà đảm bảo được sự ổn định của thiết chế chính trị.
  • Ở các nước liên bang cơ chế hai viện có thể đảm bảo được quyền bình đẳng về mặt lập pháp của các bang, thông thường là sự thể hiện quyền bình đẳng của các dân tộc, của các nhà nước thành viên;
  • Do việc thảo luận và thông qua các dự luật phải tiến hành ở cả hai viện với những quan điểm khác nhau nên nội dung các văn bản luật được cân nhắc, xem xét kỹ càng hơn.

2.2 Cơ quan lãnh đạo của Nghị viện

Cơ quan lãnh đạo của Nghị viện đóng vai trò quan trọng ưong hoạt động của Nghị viện. Việc lãnh đạo ở những nghị viện có hai viện do lãnh đạo của từng viện thực hiện. Việc lãnh đạo các viện có thể do một người hoặc do một tập thể ủy ban thường vụ thực hiện. Chủ tịch Hạ nghị viện Anh được gọi là Speaker (người phát ngôn). Ngoài việc phát ngôn chính thức thay mặt Hạ viện, Chủ tịch Hạ viện còn có nhiệm vụ điều khiển các phiên họp của viện bảo đảm những đặc quyền cho Nghị sĩ. Chủ tịch hoặc ủy ban thường vụ Hạ viện thông thường do hội nghị toàn thể Hạ viện bầu ra.

Chủ tịch Thượng Nghị viện có thể do Hội nghị toàn thể thượng nghị sĩ bầu ra như Pháp, Italia và Nhật. Còn ở Mỹ và một số nước khác Phó tổng thống đương nghiệm là Chủ tịch Thượng nghị viện. Ở Canada Chủ tịch Thượng nghị viện do Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Thượng viện, ở Anh Chủ tịch Thượng viện là Lord Chancellor một người đại diện của cơ quan hành pháp.

2.3 Các ủy ban của Nghị viện

Để thực hiện chức năng lập pháp cũng như những chức năng khác Nghị viện các nước tư sản đã thành lập các ủy ban. Các ủy ban thường có chủ tịch, phó chủ tịch và thư ký. Các ủy ban có nhiệm vụ nghiên cứu chuẩn bị các dự án luật các Nghị quyết của Nghị viện. Các ủy ban chia làm hai loại là ủy ban thường trực và ủy ban đặc biệt, ủy ban thường trực là ủy ban hoạt động chuyên môn còn úy ban đặc biệt được thành lập vì những nhiệm vụ đặc biệt theo từng vụ việc.

Ớ Anh và các nước thuộc khối liên hiệp Anh thành phần của các ủy ban thông thường từ 16 đến 50 Nghị sĩ, có trình độ chuyên môn hóa phù hợp với từng dự án luật. Hạ nghị viện Anh có 14 ủy ban chuyên môn có tính chất thường trực tương ứng với 14 bộ, Quốc hội Mỹ có 16 ủy ban thường trực ở Thượng viện và 22 ủy ban thường trực ở Hạ viện.

3. Vị trí, vai trò của Nghị viện trong Bộ máy nhà nước

Nghị viện là cơ quan đại diện cao nhất của các tầng lớp dân cư trong xã hội, hình thành do bầu cử, có chức năng chủ yếu là lập pháp.

Thuật ngữ Nghị viện có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “parlare” có nghĩa là nói, là bàn luận.

Sự ra đời của chế độ Nghị viện gắn liền với cuộc cách mạng dân chủ tư sản. Chế độ Nghị viện và nền lập hiến là thắng lợi của giai cấp tư sản nhằm chống lại chế độ quân chủ chuyên chế của Nhà nước phong kiến.

Cùng với sự thừa nhận nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản mà người sáng lập ra là John Locke và Charles De Secondat Montesquieu quyền lập pháp được trao cho Nghị viện. Nghị viện tồn tại song song bên cạnh Tổng thống, Chính phủ và các cơ quan Tòa án để thực hiện chức năng lập pháp, một trong ba quyền lực quan trọng nhất của Nhà nước.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp thắc mắc. Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê