1. Hệ thống tòa án ở Đức
Đức là nhà nước Liên bang, do vậy, hệ thống tòa án được tổ chức tại cấp Liên bang và cấp Bang. Đức có 05 hệ thống tòa án chuyên biệt, bao gồm: hệ thống tòa án thường xét xử các tranh chấp về dân sự và các vụ án hình sự; hệ thống tòa án lao động; hệ thống tòa án hành chính; hệ thống tòa án tài chính và hệ thống tòa án về bảo hiểm xã hội.
Hệ thống tòa án lao động được coi là kết quả của sự chuyên môn hóa trong hoạt động xét xử dân sự của tòa án thường và các hệ thống tòa án tài chính và hệ thống tòa án bảo hiểm xã hội được coi là sản phẩm của quá trình chuyên môn hóa và từ hoạt động xét xử của hệ thống tòa án hành chính. Bên cạnh các hệ thống tòa án nói trên là Tòa án hiến pháp của Liên bang. Tòa án hiến pháp Liên bang xét các khiếu kiện bảo đảm tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật, các khiếu nại của công dân, nếu quyền công dân bị vi phạm từ hoạt động của cơ quan hành pháp, lập pháp.
Hệ thống tòa án thường (tòa án xét xử các vụ án dân sự và hình sự -ordentliche Gerichtbarkeit). Hệ thống này gồm bốn cấp là Tòa án khu vực; Tòa án liên khu vực; Tòa án cấp cao của Bang và Tòa án Liên bang về dân sự và hình sự.
Về dân sự, tòa án khu vực (Amtgericht) có thẩm quyền xét xử các tranh chấp có giá ngạch đến 6.000 Euro, các vụ án hôn nhân gia đình (không phụ thuộc vào giá ngạch). Việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân gia đình tại tòa án khu vực thông thường do một thẩm phán thực hiện (không có hội thẩm, kể cả các vụ hôn nhân và gia đình). Về hình sự, tòa án khu vực có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự có mức hình phạt tối đa là 4 năm tù giam. Về cơ bản, tòa hình sự tại tòa án khu vực cũng xét xử thông qua 1 thẩm phán. Một điểm đáng lưu ý trong pháp luật về tố tụng dân sự của Đức là không phải mọi phán quyết sơ thẩm đều có thể yêu cầu xử phúc thẩm. Chỉ có thể yêu cầu phúc thẩm, nếu nội dung yêu cầu phúc thẩm có giá ngạch từ 6.000 Euro trở lên hoặc tòa án sơ thẩm cho phép phúc thẩm và ghi rõ trong bản án. Ngoài ra, Thủ tục tố tụng dân sự Đức có quy định về thủ tục đòi tiền nhanh (tòa án khu vực có thẩm quyền thực hiện thủ tục đòi tiền nhanh) đối với các quyền yêu cầu đòi tiền rõ ràng.
Tòa án liên khu vực (Landgericht), có thẩm quyền xét xử dân sự đối với các vụ tranh chấp có giá ngạch từ 6.000 Euro trở lên, xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm của tòa khu vực. Các hội đồng xét xử dân sự sơ thẩm cũng như phúc thẩm tại tòa án khu vực bao gồm 3 thẩm phán chuyên nghiệp (đối với các hội đồng xét xử các tranh chấp về thương mại hội đồng xét xử gồm 1 thẩm phán chuyên nghiệp và 2 hội thẩm là thương gia). Cá biệt, có thể giao các vụ việc xét xử sơ thẩm cũng như phúc thẩm tại tòa án liên khu vực cho 1 thẩm phán. Tòa án hình sự thuộc tòa liên khu vực xét xử sở thẩm các vụ án hình sự từ 4 năm tù giam trở lên và xét xử phúc thẩm phán quyết sơ thẩm của tòa án khu vực. Việc giám đốc thẩm phán quyết của Tòa án liên khu vực chỉ được phép dưới những điều kiện nhất định (có những vấn đề mới phát sinh cần có đường lối xét xử thống nhất của tòa án cấp cao hơn, hoặc về cùng một vấn đề nhưng có sự vận dụng pháp luật khác nhau của các tòa án khác nhau ở cùng một cấp và việc một bản án có được giám đốc thẩm hay không được tòa án xét xử phúc thẩm xác định rõ trong bản án phúc thẩm).
Tòa án cấp cao của bang (Oberlandesgericht), là tòa án xét xử phúc thẩm các bản án sơ thẩm dân sự của tòa án liên khu vực, xét xử phúc thẩm các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án khu vực. Về hình sự, tòa án cấp cao của bang xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về khủng bố. Thông thường mỗi bang có một tòa án cấp cao của bang, cá biệt có một số bang có 2 hoặc 3 tòa án cấp cao.
Ở cấp Liên bang, tòa án xét xử dân sự và hình sự có tên gọi là Tòa án Liên bang về hình sự và dân sự (Bundesgerichtshof). Về dân sự, Tòa án cấp cao của bang chủ yếu xét xử giám đốc thẩm. Về hình sự, Tòa án Liên bang là Tòa án phúc thẩm của Tòa án cấp cao của các Bang về các tội liên quan đến tội khủng bố, và xét xử sơ trung thẩm các vụ về an ninh quốc gia.
Hệ thống tòa án lao động (Arbeitsgericht), bao gồm tòa án lao động (Arbeitsgericht), tòa án lao động Bang (Landesarbeitsgericht) và Tòa án lao động Liên bang (Bundesarbeitsgericht). Tòa án lao động xét xử các tranh chấp lao động tập thể (giữa công đoàn và hiệp hội người sử dụng lao động) và tranh chấp lao động cá nhân (tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động)
Hệ thống tòa án hành chính (Verwaltungsgerichtbarkeit), hệ thống này gồm 03 cấp là Tòa án hành chính (Verwaltungsgericht), Tòa án hành chính của Bang (Landesverwaltungsgericht) và Tòa án Hành chính Liên bang (Bundesverwaltungsgericht). Hệ thống Tòa án hành chính có thẩm quyền xét xử các tranh chấp giữa một bên là cơ quan nhà nước và phía bên kia là công dân, cụ thể, tòa án hành chính có thẩm quyền xét xử các khiếu nại về các hành vi hành chính của cơ quan nhà nước (ví dụ khiếu nại về quyết định không cấp phép xây nhà về hạn chế quyền sử dụng bất động sản v.v...).
Hệ thống tòa án tòa án tài chính, bao gồm Tòa án tài chính Bang (Finanzgericht), Tòa án tài chính Liên bang (Bundesfinanzgericht). Hệ thống tòa án tài chính xét xử các tranh chấp về thuế giữa một bên là công dân và bên kia là cơ quan nhà nước.
Hệ thống tòa xã hội(Sozialgerichtsbarkeit), bao gồm Tòa án xã hội (Sozialgericht), Tòa án xã hội Bang (Landessozialgericht) và Tòa án xã hội Liên bang (Bundesozialgericht). Các tòa án xã hội xét xử các tranh chấp về trợ cấp xã hội giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xã hội và công dân.
2. Về công tác đào tạo các chức danh tư pháp
Ở Đức, việc đào tạo các chức danh tư pháp được thực hiện theo chương trình thống nhất (không tồn tại mô hình đạo tạo riêng cho từng nghề luật như nghề thẩm phán, nghề luật sư... mà chỉ có một quy trình đào tạo chung cho mọi nghề luật), gồm 2 giai đoạn, giai đoạn đào tạo tại các trường đại học (khoảng 4 năm), kết thúc giai đoạn này là kỳ thi quốc gia lần thứ nhất và giai đoạn đào tạo thực tế (khoảng 2 năm) tại tòa án, cơ quan công tố, văn phòng luật sư, cơ quan hành chính và một cơ sở do sinh viên tự chọn. Quá trình đào tạo các chức danh tư pháp được thực hiện một cách chặt chẽ, theo một chương trình đào tạo thống nhất trên toàn Liên bang đối với các chức danh tư pháp bao gồm thẩm phán, công tố viên và luật sư. Theo các chuyên gia của Đức, việc đào tạo các chức danh tư pháp theo một chương trình chung, thống nhất cho cả 03 chức danh tư pháp nêu trên có ưu điểm là thiết lập được mặt bằng kiến thức chung về chuyên môn, nghiệp vụ cho các chức danh này để họ hiểu và dễ thống nhất với nhau khi cùng tham gia vào một vụ việc, tạo điều kiện xét xử nhanh chóng, chính xác và chuyên nghiệp.
Trên cơ sở chương trình đào tạo thống nhất, Bộ Tư pháp các Bang chịu trách nhiệm đào tạo các chức danh tư pháp. Một người muốn trở thành thẩm phán, công tố viên hoặc luật sư phải trải qua hai kỳ thi quốc gia do Bộ Tư pháp các Bang tổ chức, trong đó: (i) Kỳ thi quốc gia lần thứ nhất được tổ chức cho các sinh viên đã hoàn thành chương trình học 4 năm tại các trường Đại học, người thi đỗ được cấp bằng cử nhân Luật (Diplomjurist) và có thể làm việc tại các doanh nghiệp hoặc cơ quan nhà nước nhưng không được đại diện cho doanh nghiệp khi tham gia phiên tòa và không được làm công chức cao cấp của các cơ quan nhà nước; (ii) Kỳ thi quốc gia lần thứ hai được tổ chức cho các đối tượng đã có bằng cử nhân luật hoàn thành thời gian học thực tế 2 năm tại các Tòa án, Viện Công tố, các cơ quan hành chính nhà nước và các văn phòng, công ty luật. Những người thi đỗ kỳ thi quốc gia lần thứ hai về nguyên tắc có thể tự chọn nghề: Thẩm phán, Công tố viên hay Luật sư nhưng trên thực tế chỉ có 10% luật gia được trở thành Thẩm phán và Công tố viên (đó là những sinh viên xuất sắc nhất); số còn lại chủ yếu hành nghề luật sư. Điểm khác biệt giữa hai kỳ thi là kỳ thi thứ nhất mang tính lý thuyết, tập trung vào các môn học luật cơ bản và luật Châu Âu, trong khi đó kỳ thi quốc gia thứ hai chú trọng về luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể.
Điểm đáng lưu ý là những sinh viên sau khi thi đỗ kỳ thi lần thứ nhất, khi tham gia đào tạo thực tế, kể cả những người sau này làm luật sư, đều được nhà nước hỗ trợ với mức 1000 euro/tháng và không phải hoàn trả trong trường hợp không thi đỗ kỳ thi quốc gia lần thứ hai.
Bên cạnh việc đào tạo các chức danh tư pháp như đã nêu trên, công tác bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ của Bộ Tư pháp, các chức danh tư pháp như thẩm phán, công tố viên và các nhân viên làm việc trong Tòa án, Viện Công tố cũng được quan tâm tổ chức cả ở cấp Bang, Liên bang theo định kỳ hoặc theo yêu cầu công tác.
Hiện tại, theo yêu cầu thống nhất đào tạo cử nhân theo hệ Bachelor của Liên minh châu Âu, Đức đang đặt vấn đề cải cách đào tạo luật. Tuy nhiên, quan điểm chính thống vẫn muốn giữ nguyên cách đào tạo cử nhân luật như hiện nay (4 năm đào tạo đại học - cấp bằng Diplom) sau đó là giai đoạn đào tạo thực tế, kết thúc bằng kỳ thi quốc gia lần thứ 2. Hiện tại có một số trường đại học ở Đức bắt đầu thực hiện đào tạo theo hệ Bachelor (3 năm), chủ yếu chuyên về pháp luật kinh tế. Người có bằng Bachelor được làm luật sư tư vấn trong các doanh nghiệp, nhưng không được đại diện cho doanh nghiệp trong quan hệ với người thứ ba hoặc trước tòa án.
3. Tòa án Hiến pháp CHLB Đức
Tòa án Hiến pháp Liên bang (tiếng Đức: Bundesverfassungsgericht – BVerfG) là tòa án hiến pháp của nước Cộng hòa Liên bang Đức. Được xem là người bảo vệ Hiến pháp Đức (luật cơ bản), tòa có nhiệm vụ song đôi, một mặt là cơ quan hiến pháp độc lập và mặt khác là một phần của quyền lực tư pháp quốc gia trên lãnh vực đặc biệt của luật hiến pháp và công pháp quốc tế. Thông qua các phán quyết của tòa, tòa đóng vai trò là người diễn giải cuối cùng của hiến pháp, cung cấp một giải thích có tính ràng buộc của văn bản hiến pháp.
Ở Đức, không có tòa án tối cao duy nhất. Thay vào đó, các vụ án được xử lý bởi 5 tòa án liên bang cấp cao, tùy thuộc vào bản chất và phạm vi của chúng. Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức có quyền hạn giải thích cuối cùng và khuyến nghị sửa đổi Hiến pháp Đức, là tòa án cao nhất trên thực tế của Đức, vì tòa có thể tuyên bố cả luật pháp liên bang và nhà nước là không hiệu quả hoặc vi phạm hiến pháp, tòa có thể đảo ngược các hành vi, luật và quy định của tất cả các cấp hành chính hoặc xác định họ hành động trong trường hợp sai sót, và các quyết định của tòa án này không thể bị các cơ quan nhà nước hoặc bất cứ ai khác phủ quyết. Ngoài ra, tòa có quyền áp đảo các quyết định của tất cả các tòa án liên bang khác, mặc dù không phải là một tòa án kháng cáo trong chính hệ thống tòa án Đức. Đây cũng là tòa án duy nhất sở hữu quyền lực và thẩm quyền tuyên bố các đảng chính trị là ngoài vòng pháp luật, nếu các biểu hiện hoặc hoạt động của các đảng bị chứng minh là vi hiến.
Mặc dù Tòa án Hiến pháp Liên bang kiểm tra phán quyết của các tòa án khác nhưng không thuộc vào các cấp bậc tòa án xét xử mà xem xét lại các quyết định này như một hành động của quyền lực quốc gia (Akte der Staatsgewalt), tương tự các cơ quan quốc gia khác. Tòa án Hiến pháp Liên bang có trụ sở tại thành phố Karlsruhe và được bảo vệ bởi cảnh sát liên bang.
3.1. Tổ chức
Tòa được chia thành 2 viện (Senat) và 6 phòng (Kammer) với thẩm quyền chuyên môn khác nhau. Tòa có quyền thay đổi thẩm quyền của các viện và phòng thông qua quy định điều hành do chính tòa đưa ra. Kinh nghiệm tư pháp và trọng tâm của các thành viên ngày càng được quan tâm đến. Nói một cách đơn giản, trước đây có thể phân chia viện thứ nhất là "Viện về quyền công dân" và viện thứ hai là "Viện luật quốc gia": Viện thứ nhất có trách nhiệm về những câu hỏi của dẫn giải các điều 1 đến 17, 19, 20 khoản 4, 33, 38, 101, 103 và 104 của Hiến pháp, trong khi tranh chấp giữa những cơ quan hiến pháp hay vụ việc cấm đảng phái được đưa ra trước viện thứ hai. Ngày nay việc phân chia này không còn đúng nữa vì cả hai viện xét xử vụ việc tùy theo chuyên môn. Bằng mật độ kiểm tra cao qua việc hành luật, Tòa án Hiến pháp Liên bang đã hình thành mật độ điều chỉnh của hệ thống luật pháp Đức.
Khởi đầu, mỗi viện có 12 thẩm phán. Năm 1963, con số thẩm phán được giảm xuống còn 8, bao gồm cả chánh án và phó chánh án của Tòa án Hiến pháp Liên bang, mỗi người đứng đầu một viện. Một viện có khả năng phán quyết khi ít nhất có 6 thẩm phán hiện diện. Vì con số thẩm phán trong một viện là con số chẵn nên trường hợp hòa là có thể xảy ra. Người đề đơn hay người dẫn đầu cuộc khiếu nại thắng cuộc khi ít nhất có 5 thẩm phán đồng ý với quan điểm luật pháp của người đó.
Các viện triệu tập nhiều phòng trong lãnh vực làm việc của viện, bao gồm 3 thẩm phán mỗi phòng. Các phòng này quyết định về khiếu nại hiến pháp, về kiểm tra chuẩn mực cụ thể và về quy trình theo ủy ban điều tra của quốc hội thay cho viện và vì thế giảm gáng nặng cho viện. Trong thời gian này mỗi viện bao gồm 3 phòng. Theo đó thì một số thẩm phán là thành viên đồng thời của nhiều viện.
3.2. Thẩm quyền
Tầm quan trọng đặc biệt của Tòa án Hiến pháp Liên bang được thể hiện trong điều 31, khoản 1 Luật về Tòa án Hiến pháp Liên bang:
Các phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang là bắt buộc đối với các cơ quan hiến pháp của liên bang và tiểu bang cũng như đối với tất cả các tòa án và cơ quan nhà nước.
Tác động bắt buộc về hình thức của một phán quyết chỉ có trong trường hợp cụ thể (inter partes). Không có bắt buộc về nội dung cho những tòa án khác đối với quan điểm pháp luật được tuyên xử. Điều này không có pháp lực. Nhưng quan điểm pháp luật của Tòa án Hiến pháp Liên bang là phương hướng chỉ đạo cho các tòa án cấp dưới, phần nhiều là được tuân theo. Rất hiếm có những khác biệt. Nhưng mỗi tòa án đều có thể theo một quan điểm pháp luật khác trong một trường hợp tương tự hay giống như vậy, khi tòa án cho rằng điều này là đúng.
Trong các trường hợp được nêu ra trong điều 31 khoản 2 Luật về Tòa án Hiến pháp thì các phán quyết của tòa lại có pháp lực và có hiệu lực cho tất cả mọi người (inter omnes). Về cơ bản đấy là quy trình mà Tòa án Hiến pháp Liên bang xác định là liệu một đạo luật có phù hợp với Hiến pháp hay không. Chỉ có Tòa án Hiến pháp Liên bang mới có thể tuyên bố một đạo luật được ban hành sau khi Hiến pháp có hiệu lực là trái với Hiến pháp (thẩm quyền bãi bỏ chuẩn mực - Normenverwerfungskompotenz). Nếu một tòa án khác hoài nghi về tính hợp hiến của một đạo luật thì tòa án này phải đưa ra Tòa án Hiến pháp Liên bang theo điều 100 Hiến pháp, nếu như quan trọng đến mức cần phải quyết định (kiểm tra chuẩn mực cụ thể - konkrete Normenkontrolle).
4. Tòa án Hành chính Liên bang Đức
Tòa án Hành chính Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesverwaltungsgericht) là Tòa án Tối cao của Đức trong thẩm quyền về Hành chính, một trong 5 Tòa án Tối cao Liên bang (bên cạnh Bundesarbeitsgericht, Bundesgerichtshof, Bundesfinanzhof và Bundessozialgericht). Tòa án Hành chính Liên bang có trụ sở tại Leipzig.
Tòa án Hành chính Liên bang được xây dựng theo hệ thống độc lập với Tòa án Tư pháp và các Tòa án Liên bang khác. Tòa án Hành chính Liên bang là tòa án kháng cáo cấp thượng thẩm, xem xét giải quyết các phán quyết của Tòa án Bang có bảo đảm tính hợp pháp về hình thức và nội dung theo luật định.
Về mặt tòa án, Tòa án Hành chính Liên bang làm việc độc lập, nhưng là cơ quan thì nó trực thuộc và dưới quyền kiểm soát của bộ Tư pháp.
4.1. Về tổ chức
Trong hệ thống Tòa án Hành chính Liên bang có 16 Tòa án cấp liên khu vực, 52 Tòa án khu vực (Bang).
Tòa án Hành chính được chia ra 3 cấp xét xử:
- Tòa án Hành chính sơ thẩm: Thành lập theo cấp Huyện
- Tòa án Hành chính phúc thẩm: Thành lập theo cấp Bang
- Tòa án Hành chính Liên bang: Thành lập theo cấp Liên bang
Tòa án Hành chính Liên bang là cơ quan phán quyết cuối cùng, xem xét phán quyết phúc thẩm có phù hợp với Luật và Hiến pháp không.
4.2. Thẩm quyền
Tòa án Hành chính giải quyết các khiếu nại thuộc thẩm quyền của cơ quan tài phán hành chính, bao gồm những tranh chấp về luật công mà không có đặc điểm liên quan đến Hiến pháp và không được đạo luật Liên bang giao cho Tòa án khác.
Trường hợp tranh chấp thẩm quyền giữa các Tòa án, thì Tòa án chung giải quyết xác định thẩm quyền.
Có 2 ngoại lệ trong việc giải quyết lĩnh vực công được ghi trong Luật Tố tụng Hành chính:
- Toà án Hành chính không phán quyết về một tranh chấp đã được luật pháp liên bang giao cho Toà án khác giải quyết, cụ thể là việc giao một số tranh chấp về luật công cho Toà án bảo hiểm xã hội và Toà án tài chính giải quyết cũng như việc giao cho Toà án thường giải quyết các đơn khiếu kiện của công dân yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại do công chức gây ra khi thi hành công vụ.
- Những vấn đề Luật công mang tính chất tranh chấp về Hiến pháp. Những tranh chấp kiểu này do Tòa án Hiến pháp giải quyết.
5. Civil law là gì
Civil law (Dân luật) là một hệ thống pháp luật trên thế giới có nguồn gốc từ châu Âu và được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hệ thống dân luật được phát triển từ bộ khung là luật La Mã, trong đó đã luật hóa các nguyên tắc chủ đạo để trở thành một hệ thống mà con người có thể viện dẫn được, đóng vai trò là nguồn luật cơ bản.
Từ đó, với câu hỏi Civil law là gì, có thể hiểu đơn giản đó chính là một hệ thống pháp luật bao gồm các đặc điểm sau:
– Một hệ thống toàn diện các quy tắc và nguyên tắc thường được sắp xếp theo quy tắc và dễ dàng tiếp cận với công dân và luật gia.
– Một hệ thống được tổ chức tốt ủng hộ sự hợp tác, trật tự và khả năng dự đoán, dựa trên cơ sở phân loại logic và năng động được phát triển từ luật La Mã và được phản ánh trong cấu trúc của các mã.
– Một hệ thống thích ứng, với các quy tắc dân sự tránh chi tiết quá mức và chứa các điều khoản chung cho phép thích ứng với sự thay đổi.
– Một hệ thống chủ yếu lập pháp, nhưng vẫn để lại chỗ cho cơ quan tư pháp điều chỉnh các quy tắc theo sự thay đổi xã hội và nhu cầu mới, bằng cách giải thích và luật học sáng tạo.
Bài viết tham khảo: Tìm hiểu hệ thống tòa án và công tác đào tạo các chức danh tư pháp của Cộng hòa Liên bang Đức; Hải Lộc (Báo điện tử Chính phủ)